Bát Nương Diêu Trì Cung

Bát Nương Diêu Trì Cung

Đêm 14 rạng 15 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con. Thể theo lời xin của các con, mà cũng để làm tròn lời hứa của Bát Nương, kể từ ngày nay, mỗi đêm Từ Huệ chấp bút, Bát Nương sẽ chỉ dạy về bí pháp luyện đạo – tức là luyện tam bửu hay luyện tinh khí thần hiệp nhất. Từ xưa đến nay, Đức Hộ Pháp chưa dạy cho ai đến tận tường rốt ráo. Nếu có cũng chỉ phớt qua, chờ vào Trí Huệ Cung mới dạy thực sự. Bát Nương cũng vậy, Bát nương chưa hề dạy cho ai.

Nay các con may duyên hữu phước, mà cũng bởi tiền căn của các con nên Bát Nương được sự đồng ý của Đức Hộ Pháp, về chỉ dạy các con bí pháp luyện đạo. Sau này, Từ Huệ về Vạn Pháp Cung chỉ lại cho các chơn linh cao trọng muốn đến đó để luyện đạo. Tại sao phải về Vạn Pháp Cung mới luyện đạo được? Bởi nơi đó là khu địa linh, dương khí rất nhiều, tiếp điển dễ dàng nên Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp đã sẳn chọn và dành riêng cho các chơn linh cao trọng thuộc nam phái luyện đạo.

Từ nay, mỗi đêm Bát Nương sẽ chỉ dạy một ít. Sau cùng, Từ Huệ sẽ soạn thành từng tập để theo đó mà luyện đạo. Luyện đạo không phải dễ mà cũng không phải khó. Khó dễ tại tâm. Phật tại tâm là như vậy. Luyện đạo còn tùy thuộc rất nhiều vào tiền căn của các con nữa. Các con có tiền căn cao trọng thì mới gặp chơn sư chỉ dạy bí pháp luyện đạo tận tường, cao siêu rốt ráo. Nhưng khi gặp rồi, các con còn phải kiên tâm, trì chí, đeo đuổi tới cùng.

Có như vậy mới không uổng một kiếp tu. Luyện đạo là con đường thứ ba của đại đạo. Con đường thứ nhất là đi theo hội thánh Cửu Trùng Đài, phổ độ chúng sanh, lập công với Đức Chí Tôn để về với Đức Chí Tôn sau khi chết. Con đường thứ hai là đi theo hội thánh Phước Thiện, lo nuôi sống thi hài chúng sanh, lập đức với Đức Chí Tôn để về với Đức Chí Tôn sau khi chết. Con đường thứ ba là con đường tu chơn do hội thánh Hiệp Thiên Đài dìu dắt.

Con đường này dành cho những vị nào có tiền căn cao trọng, theo đó mà luyện đạo để về với Đức Chí Tôn trước khi chết. Luyện đạo không khó, chỉ khó ở chỗ các con có làm được hay không, có tín ngưỡng tuyệt đối nơi Đức Chí Tôn hay không. Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp là như vậy. Bởi Đạo huyền vi, mầu nhiệm của trời đất là quyền năng thiêng liêng của Đức Chí Tôn điều khiển càn khôn vũ trụ.

Đạo là ngôi vị thiêng liêng của nguyên nhân, quỉ nhân, hóa nhân. Cho nên muốn luyện đạo, biết đạo, thấy đạo, chúng ta buộc phải có một tấm lòng thành khẩn và tín ngưỡng tuyệt đối vào Đức Chí Tôn. Rồi nhiên hậu, Đức Chí tôn sẽ cho chúng ta toại nguyện. Cũng như các khoa học gia ngày nay chuyên về không gian vũ trụ thành khẩn tin tưởng rằng: ngoài không gian vũ trụ bao la kia, còn có hàng tỉ tỉ thiên thể khác.

Họ tìm cách đến nơi để quan sát, nhiên hậu họ cũng đến được. Họ đến bằng thể xác hữu hình, bằng phương tiện khoa học. Ta đến bằng chơn thần huyền diệu, bằng bí pháp luyện đạo, bằng phương tiện tâm linh. Duy có khác về phương cách nhưng kết quả không có gì khác nhau. Luyện đạo không phải một ngày một bữa, mà chia ra nhiều đợt, mỗi đợt 100 ngày. Nếu đợt này không có kết quả thì nghỉ ngơi ít lâu, rồi làm lại đợt sau.

Làm hoài như vậy cho đến khi nào có kết quả mới thôi Ngày xưa, luyện đạo thì nhiều mà đạt đạo rất ít. Chỉ vì ta thiếu kiên tâm trì chí, nhiều khi gần thành công lại bỏ cuộc.

Đêm 15 rạng 16 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con. Đêm nay, Bát Nương giảng tiếp về bí pháp luyện đạo. Trước khi luyện đạo phải qua hai thời kỳ là nhơn đạo và thiên đạo. Nhơn đạo là lo cho mình, thiên đạo là lo cho người khác. Hai phần này lo xong tức là đã trả nợ tiền khiên và nợ hiện tại. Nợ tiền khiên tức là nợ chúng ta vay từ muôn kiếp trước. Nợ hiện tại tức là nợ sinh thành dưỡng dục, nợ ngọn rau tấc đất, nợ cố tình hay nợ vô tình.

Nhơn đạo: nam thì tam cang, ngũ thường; nữ thì tam tùng, tứ đức. Thiên đạo: nam nữ đều phế đời hành đạo, phổ độ chúng sanh, hoằng khai đại đạo Đức Hộ Pháp đã có nói: “Muốn vào Trí Huệ Cung, mọi người buộc phải đủ tam lập hoặc một phần trong tam lập.” Tam lập là gì? Là lập công, lập đức, lập ngôn. Ba phần này mục đích cũng để trả nợ tiền khiên. Trả xong nợ này, các con mới mong lập ngôi vị nơi cõi thiêng liêng hằng sống.

1. Lập công:

– Lập công đối với cá nhân: nam tròn tam cang, nữ tròn tam tùng; tức là lo cho mình.

– Lập công đối với hội thánh: nam hay nữ đều theo hội thánh Cửu Trùng Đài, phổ độ và giáo hóa chúng sanh.

Ấy gọi là lập công với Đức Chí Tôn.

2. Lập đức:

– Lập đức đối với cá nhân: nam tròn ngũ thường, nữ tròn tứ đức; tức là làm tròn bổn phận đối với người khác.

– Lập đức đối với hội thánh: nam hay nữ đều theo hội thánh Phước Thiện làm ra của cải để cứu vớt chúng sanh, nuôi sống thi hài toàn đạo. Ấy gọi là lập đức với Đức Chí Tôn.

3. Lập ngôn:

Nam hay nữ đều dùng lời nói của mình thuyết đạo hay là viết sách dạy dỗ chúng sanh biết hồi đầu hướng thiện, tu tâm dưỡng tánh, biết lập công, lập ngôn, lập đức như mình; tức là dìu dắt vạn linh hiệp nhất linh. Mọi người buộc phải có đủ tam lập hoặc một phần trong tam lập mới được vào Trí Huệ Cung hoặc Vạn Pháp Cung; ngoại trừ hội thánh ban ân riêng. Luyện đạo ở vào tuổi 40 đến 60 thì tốt nhất.

Khi vào Trí Huệ Cung hoặc Vạn Pháp Cung phải có thời khóa biểu rõ ràng mới có kết quả.