1. Luyện Tinh Hóa Khí

Bát Nương Diêu Trì Cung

Tại sao phải luyện tinh hóa khí? Tinh là thể xác, nhưng tại sao phải luyện? Luyện đây có nghĩa là tôi luyện, rèn luyện, đào luyện; bởi vì thể xác con người do tinh ba vật chất mà thành. Tinh ba vật chất có thứ thanh thứ trượt. Ngoài ra, bên trong thể xác còn có lục phủ, ngũ tạng. Vì có lục phủ, ngũ tạng nên có lục dục, thất tình; khiến cho con người gây nhiều tội ác, làm cho linh hồn chìm đắm, luân hồi.

Cũng vì thế mà linh hồn trở về với Đức Chí Tôn rất khó khăn. Luyện tinh hóa khí có nghĩa là thanh lọc vật chất trượt ra khỏi thể xác, làm cho thể xác cường tráng, trong sạch, nhẹ nhàng. Thể xác mà cường tráng trí não mới khôn ngoan sáng suốt. Thể xác trong sạch trí não mới có tư tưởng thanh cao. Thể xác nhẹ nhàng trí não mới huớng thượng. Làm cho thể xác cường tráng, trong sạch, nhẹ nhàng tức là luyện tinh hóa khí.

Luyện tinh hóa khí có nghĩa là đem chất trong sạch của thể xác bồi dưỡng cho trí não, hay nói cách khác: biến tinh chất trong sạch của thể xác thành một chất hơi, rồi đem chất hơi này- gọi là Âm Dương khí lên óc, bồi dưỡng óc, tức là bồi dưỡng trí não; mà sự sáng suốt của trí não là khí đó vậy.

– Muốn thể xác cường tráng, ta phải tập thể dục sáng, chiều và phải lấy Tiên Thiên Khí nuôi Hậu Thiên Khí.

– Muốn thể xác trong sạch, ta phải bỏ lục dục, thất tình; nói chung là phải bỏ nhơn dục.

– Muốn thể xác nhẹ nhàng, ta phải trường trai, tuyệt dục. Trường trai tức là đem vật chất thanh nuôi thể xác, tuyệt dục là không dâm dục, không có tư tưởng dục tình, tức là không cho chất thanh hao tán, tức là phải nghịch chuyển.

Muốn thể xác cường tráng, ta phải tập thể dục sáng chiều. Như các con đã biết, thân thể người ta do vật chất tạo thành, nó đi từ không ra có. Cũng như trời đất từ hư vô biến sanh thái cực, thái cực sanh lưỡng nghi, sanh tứ tượng, sanh bát quái, rồi sanh hóa vô cùng để tạo thành càn khôn vũ trụ. Vật chất dầu lớn dầu nhỏ đều phải vận hành để biến hóa cho phù hợp với luật dinh hư tiêu trưởng của Đức Chí Tôn.

Con người cũng vậy, thể xác con người do vật chất tạo thành, nó có hàng tỉ tỉ tế bào hợp lại, quấn quít vào nhau để tạo thành sự sống cho con người. Chính những tế bào này cũng có sự sống riêng của nó nữa; nó sống nhờ không khí của trời đất qua hơi thở, gọi là Tiên Thiên khí và cũng nhờ tinh ba vật chất tức là thức ăn qua đường miệng, gọi là Hậu Thiên khí. Tiên Thiên khí hòa hợp với Hậu Thiên khí mới tạo thành sự sống cho con người.

Tập thể dục mỗi ngày là thúc giục ngũ tạng, lục phủ vận hành, đem Tiên Thiên khí và Hậu Thiên khí vào tận ngõ hẻm của hàng tỉ tỉ tế bào nuôi sống nó. Nó sống tức là con người sống đó vậy. Thực ra, con người mỗi ngày đều có tập thể dục: đi đứng nằm ngồi là thể dục, suy tư, làm việc là thể dục. Tuy nhiên, thể dục như vậy là không điều hòa và không đầy đủ. Bây giờ luyện tinh hóa khí phải tập thể dục là để phụ thêm phần thể dục tự nhiên đó.

Tiên Thiên khí là khí của trời đất, Hậu Thiên khí là tinh ba của vật chất. Nói theo khoa học thì hồng cầu là tinh ba vật chất, hồng cầu hấp thụ không khí của trời đất tại buồng phổi, tức là hấp thụ Tiên Thiên khí, rồi hồng cầu trở nên tươi nhuận, mạnh mẽ thêm lên, đem không khí đi tận cùng ngõ hẻm của cơ thể để nuôi hàng tỉ tỉ tế bào. Con người mỗi ngày đều có sự phối hợp giữa Tiên Thiên khí và Hậu Thiên khí qua sự hít thở tại buồng phổi, qua sự ăn uống của tì vị.

Tuy nhiên, sự phối hợp tự nhiên này không đủ sức ép để đưa Tiên Thiên khí và Hậu Thiên khí đến tận cùng ngõ ngách của các tế bào nhỏ nhất, nhất là những tế bào li ti nơi óc. Như vậy, tập thể dục mỗi ngày của phần luyện tinh hóa khí là vận động đầu, cổ, tay, chân, hít thở mạnh mẽ để tạo sinh lực cho thể xác cường tráng đó vậy. Phần thể dục này, khi vào Trí Huệ Cung hay Vạn Pháp Cung, phải có giờ giấc và cách thức rõ ràng mới có kết quả.

Đến phần lấy khí Tiên Thiên nuôi khí Hậu Thiên của phần luyện đạo thực hành là khác. (Sẽ nói rõ ở phần sau).

Đêm 16 rạng 17 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con. Đêm nay Bát Nương giảng tiếp về Bí Pháp luyện đạo. Muốn thể xác trong sạch, ta phải bỏ lục dục thất tình. Muốn bỏ lục dục thất tình, ta phải biết lục dục là gì. Khi biết rồi bỏ mới được, không phải một ngày một tháng mà bỏ được bởi linh hồn sống với lục dục thất tình như là người ghiền á phiện, như con người bị ràng buộc vào tứ đổ tường. Muốn thoát khỏi nó, con người phải có một ý chí mãnh liệt.

Bây giờ trở lại lục dục thất tình. Lục là sáu, dục là muốn. Lục dục là sáu phần muốn. Sở dĩ có sáu phần muốn là do lục căn tiếp xúc với lục trần sinh lục thức, rồi lục thức tiếp xúc với lục trần sinh lục dục. Lục là sáu, thức là biết.

| Lục căn | Lục trần | Lục thức | |---|---|---| | Mắt | Sắc | Nhãn thức | | Tai | Thinh | Nhĩ thức | | Mũi | Hương | Tỉ thức | | Lưỡi | Vị | Thiệt thức | | Thân | Xúc | Thân thức | | Ý | Pháp | Ý thức | | Lục thức | Lục trần | Lục dục | |---|---|---| | Nhãn thức | Sắc | Sắc dục | | Nhĩ thức | Thinh | Thinh dục | | Tỉ thức | Hương | Hương dục | | Thiệt thức | Vị | Vị dục | | Thân thức | Xúc | Xúc dục | | Ý thức | Pháp | Pháp dục |

Có lục dục mới sinh ra thất tình. Thất tình là: hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục. Tình dục là tình duy chủ, tình dục là tình quan trọng. Con người làm chủ được tình dục thì con người mới có thể trở thành Phật, Tiên, Thánh. Con người có lục dục thất tình là con người có món bửu bối vô giá. Con người hơn con vật là con người có lục dục thất tình. Lục dục thất tình như con dao hai lưỡi, nó có thể làm cho con người ta thăng hay đọa.

Đức Chí Tôn muốn cho con người hơn con vật nên Đức Chí Tôn cho con người có lục dục thất tình. Đồng thời, Đức Chí Tôn lại cho con người một điểm linh quang để soi sáng lục dục thất tình và quyết định nên-hư, còn-mất. Chơn linh nào nghe theo điểm linh quang thì thăng, chơn linh nào không nghe theo thì đọa. Điểm linh quang đó người ta gọi là lương tâm. Mọi hành động do lục dục thất tình gây ra đều có lương tâm phán xét.

Khi phán xét, lương tâm cho con người biết đâu là phải, đâu là quấy, đâu là chánh, đâu là tà. Biết phân biệt chánh-tà mà còn làm quấy thì đọa, làm phải thì thăng. Thăng-đọa hai đường chỉ cách nhau một màn mỏng. Mỗi hành động đều có lương tâm phán xét, phán xét rồi biết được chánh-tà. Chánh-tà chỉ cách nhau một phần ngàn milimét mà thôi. Xê một chút có thể từ chánh sang tà và ngược lại.

Con người hơn con vật chỉ trong một phần ngàn milimét đó. Bát Nương sẽ dùng từ ngữ thông thường và hiện đại để diễn tả chi tiết cho các con dễ hiểu mà luyện đạo. Tạo sao lục dục thất tình làm cho con người sa đọa? Nhãn là mắt. Mắt nhìn thấy các sắc tướng của đời rồi đam mê, ham muốn nên gọi là nhãn dục. Nhĩ là tai. Tai nghe âm thanh trầm bổng, giọng huyễn, tiếng kèn, rồi cũng đam mê.

Tất cả ham muốn, đam mê do lục dục gây ra gọi là nhơn dục. Nhơn dục khác với thiên lý. Thiên lý là chánh, là phải. Nhơn dục là tà, là quấy. Thiên lý là đạo, nhơn dục là đời. Đạo-đời lẫn lộn. Tuy nhiên, phân biệt được chánh-tà, phân biệt được đời-đạo là nhờ lương tâm quyết định. Ý đại diện cho thể xác. Ý có một điển lực mạnh mẽ do điểm linh quang điều khiển. Điểm linh quang là lương tâm.

Lưong tâm cũng đại diện cho linh hồn. Linh hồn tiếp xúc với thể xác để nương theo thể xác, nhờ thể xác có những tác động hữu hình mà lập công đoạt vị. Nhưng vì thể xác vương vấn với vật chất, chịu ảnh hưởng của vật chất; mà vật chất là đời, là phàm, nên bị quyến rũ. Linh hồn là thiên lý, là đạo. Đạo đời khó phân biệt tà-chánh, phàm-thánh quấn quít nhau, có lúc phàm mạnh mà cũng có lúc thánh mạnh.

Phàm là đời, là quấy; thánh là đạo, là phải. Việc lựa chọn phải-quấy do điểm linh quang quyết định, điều khiển. Nhưng có nhiều khi ý tuân theo điểm linh quang, cũng có nhiều khi ý không tuân theo điểm linh quang. Cho nên, khi nào vật chất đầy đủ thì đời mạnh. Ý ngã theo đời, thì linh hồn phải đọa. Khi nào tinh thần đầy đủ thì đạo mạnh. Ý ngã theo đạo, thì linh hồn được thăng.

Thăng-đọa chỉ cách nhau một màn mỏng. Tội-phước chỉ cách nhau một phần ngàn milimét đó mà thôi. Nói đến đây chắc các con điên lên vì những từ ngữ và danh từ. Nào là ông Trời, Đức Chí Tôn, Thượng Đế, chơn linh, nhất linh; nào là linh hồn, vạn linh, chơn thần, điểm linh quang và ý. Để Bát Nương phân biệt có phần khoa học một chút cho các con dễ hiểu.

– Ông Trời là danh từ chỉ Thượng Đế tối cao, do người đời xử dụng thông thường.

– Đức Chí Tôn cũng chỉ Thượng Đế tối cao, do tín đồ Cao Đài xử dụng thông thường.

– Thượng Đế để chỉ Thượng Đế tối cao, do người Công giáo và nhiều tôn giáo sử dụng trong văn chương và trong giáo lý.

– Linh hồn là danh từ để chỉ sự sống của con người, bởi vì con người có ba phần tổng hợp: xác thịt, trí não và linh hồn. Xác thịt là vật thể hữu hình. Trí não là phần bán hữu hình. Linh hồn là phần vô hình. Ba phần này hiệp lại mới thành con người hiện tại.

– Vạn linh, chơn linh cũng chỉ về sự sống của con người do đạo Cao Đài sử dụng trong giáo lý nói về con người khi chết.

– Chơn thần cũng chỉ về sự sống của con người phần thiêng liêng lúc con người đắc đạo trước khi chết. Đạo Cao Đài sử dụng trong bí pháp luyện đạo.

– Điểm linh quang hay là lương tâm, đạo Cao Đài sử dụng để chỉ sự khôn ngoan hiểu biết của linh hồn.

– Ý hay ý nghĩ, đạo Cao Đài sử dụng chỉ sự khôn ngoan hiểu biết của xác thịt.

Vậy linh hồn có điểm linh quang hay là lương tâm đại diện, phụ tá hay là cố vấn. Còn xác thịt thì có ý đại diện, phụ tá hay cố vấn. Khi luyện đạo, phải biết đểm linh quang hay là lương tâm, gọi tắt là tâm, quan trọng như thế nào. Và ý hay ý nghĩ, gọi tắt là ý, quan trọng như thế nào, thì mới luyện đạo được.

– Điểm linh quang tức là tâm ví như người kị mã.

– Ý tức là ý nghĩ, ví như con tuấn mã.

Người kị mã và con tuấn mã tuy hai mà một, tuy một mà hai. Bởi người kị mã muốn đến mục tiêu cách xa ngàn dặm phải nhờ con tuấn mã. Con tuấn mã đến được mục tiêu cách xa ngàn dặm phải nhờ người kị mã, tức là nhờ tâm. Nói như vậy để các con biết tâm và ý quan trọng như thế nào, liên hệ mật thiết như thế nào. Những danh từ kia tuy nhiều nhưng không quan trọng, mà quan trọng là ý và tâm.

Tâm khôn ngoan mà ý cũng khôn ngoan. Tâm khôn ngoan là để binh vực cho linh hồn. Ý khôn ngoan để binh vực cho xác thịt. Tâm khôn ngoan trong chân thật, vị tha. Ý khôn ngoan trong ích kỉ, vị ngã. Tâm khôn ngoan trong mục đích phục vụ chúng sanh. Ý khôn ngoan trong mục đích thụ hưởng. Tâm là người kị mã, ý là con tuấn mã. Tâm phải khôn ngoan điều khiển con tuấn mã đi đến mục tiêu.

Nếu không, người kị mã và con tuấn mã sẽ lẩn quẩn trên con đường ngàn dặm đó mà không bao giờ đi đến mục tiêu được. Vậy thì tâm phải kềm ý như người kị mã kềm con tuấn mã. Tâm kềm ý có nhiều cách, cũng như người kị mã có nhiều cách kềm con tuấn mã. Nói tới đây, chắc các con đã hiểu đạo rồi. Mà một khi các con đã hiểu đạo thì các con hủy bỏ lục dục rất dễ dàng. Nhưng nếu các con chưa hiểu, Bát Nương cho thêm một ví dụ nữa.

Con người ở thế gian này trước khi hành động điều gì đều có ý nghĩ hay ý định, ý muốn. Có ý nghĩ rồi mới hành động. Vậy công thức thứ nhất là: Ý NGHĨ + HÀNH ĐỘNG Ý nghĩ là con tuấn mã, hành động là nhảy lung tung. Nếu chỉ có ý nghĩ và hành động thì con tuấn mã chỉ biết chạy nhảy lung tung mà không đi đến đâu hết. Như vậy, con tuấn mã không có giá trị gì cả. Muốn có giá trị tuấn mã phải có người cỡi.

Thêm người cỡi, ta có công thức thứ hai: Ý NGHĨ + LƯƠNG TÂM + HÀNH ĐỘNG Lục căn tiếp xúc lục trần sinh ra lục thức. Ví dụ: mắt thấy thoi vàng, biết thoi vàng là quí. Mắt là nhãn căn của lục căn, thoi vàng là sắc trần của lục trần, biết thoi vàng là quí là nhãn thức của lục thức. Biết quí, lại nhìn thoi vàng, muốn lấy thoi vàng. Biết quí là nhãn thức của lục thức, nhìn thoi vàng là sắc trần của lục trần, muốn lấy là nhãn dục của lục dục.

Bây giờ, muốn lấy thoi vàng là ý nghĩ, ý muốn hay ý định. Lấy thoi vàng bỏ túi là hành động. Đó là công thức thứ nhất. Trong công thức này, ta thấy tham lam không chơn chánh, con tuấn mã chạy nhảy lung tung không đi đến đâu, con tuấn mã phải có người cỡi nữa. Vậy ta đi vào công thức thứ nhì. Muốn lấy thoi vàng, nhưng lấy để làm chi? Để khoe của. Của này không phải của ta.

Vậy không nên lấy. Của rơi chớ lượm tham thì phải thâm. Đó là suy nghĩ, đó là lương tâm. Có lương tâm phán xét, ta đi vào công thức thứ hai. Ý nghĩ có lương tâm hướng dẫn là ý nghĩ chơn chánh. Hành động xuất phát từ ý nghĩ này là hành động chơn chánh, không có lục dục xen vào. Làm được như vậy là các con đã diệt dục rồi vậy. Nói như thế nhưng diệt dục không phải là một tiến trình dễ dàng.

Nói theo tư tưởng hiện nay thì diệt dục là một cuộc chiến đấu lâu dài bền bỉ giữa ý muốn và lương tâm. Các con phải lưu ý những điều sau đây để phân biệt chánh tà và để hướng dẫn lương tâm chiến đấu cho đến khi thắng lợi: Tâm khôn ngoan, ý cũng khôn ngoan. Tâm vị tha, ý vị ngã. Tâm là đạo, ý là đời. Tâm là chánh, ý là tà. Chánh có lý của chánh, tà có lý của tà. Vì thế mà tâm ý khó hiệp hòa.

Làm cho tâm ý hiệp hòa là các con đắc đạo vậy. Ý rất khôn ngoan, cho nên thường tìm đủ mọi cách chiếm đoạt để thụ hưởng. Ý muốn lấy thoi vàng để thụ hưởng, để làm của, nhưng lương tâm đã ngăn cản như trên. Có khi ý nghe theo, cũng có khi ý không chịu nghe theo. Nếu ý nghe theo thì thôi, nếu không nghe theo, ý lại đưa ra nhiều lý lẽ để chống chế. Ví dụ: ý muốn lấy thoi vàng, nhưng bị lương tâm ngăn cản: “Không phải của ta, không nên lấy.

Của rơi chớ lượm tham thì phải thâm.” Ý chống chế: chừng nào thâm thì chưa thấy, chớ bây giờ ta đang nghèo đói đây. Lấy được thoi vàng thì đỡ được lúc này, lại còn dư ra giàu có nữa. Tuy là của rơi, nhưng lượm của rơi đâu phải là một cái tội, còn người có của rơi chưa chắc đã nghèo, nếu ta không lấy thì người khác lấy. Lý lẽ tuy đơn sơ nhưng thực tế. Nếu không có lý lẽ khác đến ngăn cản thì hành động lấy thoi vàng sẽ xảy ra liền.

Nhưng ý khôn ngoan, tâm cũng khôn ngoan. Tâm sẽ tiếp tục ngăn cản: ta không nên lấy thoi vàng, vì nếu chỉ để trang sức, để làm của thì không có ích chi hết. Nếu lấy để tiêu pha thì chỉ có thể tiêu pha trong một lúc nào đó thôi, chớ không thể tiêu pha trọn đời. Tuy ta lấy của rơi, không có tội như trộm cướp, nhưng nếu ta đặt mình vào người chủ của rơi này, ta sẽ nghĩ sao?

Ta phải khổ sở để đi tìm nó, vì nó là mồ hôi nước mắt của ta, phòng khi đau ốm hay để dưỡng già, bây giờ mất đi thật là khổ sở. Nếu không muốn khổ sở như vậy thì ta không nên làm cho ai khổ sở. Lý lẽ của tâm đơn giản nhưng sắc bén. Nếu ý nghe theo thì hành động lấy thoi vàng không xảy ra. Nhưng đôi khi lương tâm bị ý đánh lừa nên cũng đồng ý lấy thoi vàng. Ý tiếp tục chống chế: nếu ta không lấy thì sẽ có người khác lấy.

Người khác lấy thì mất. Bây giờ ta lấy nhưng sẽ không xài. Ta tìm cách trả lại cho chủ nhân bằng cách đăng báo hoặc dán giấy tại chỗ này. Người mất thoi vàng tìm đến, ta sẽ trả lại. Nếu quá một thời gian nào đó mà không ai đến tìm, ta hiến thoi vàng cho nột cơ quan từ thiện nào đó. Lý lẽ có vẻ chơn chánh, không vụ lợi nên tâm cũng đồng ý. Nhưng khi lấy thoi vàng rồi, báo chẳng đăng mà giấy chẳng dán.

Rồi ngày lại ngày qua, gia đình gặp cơn túng thiếu hay có việc cần thì thoi vàng kia cũng âm thầm vào tiệm kim hoàn ngoài phố. Và tâm ý còn tiếp tục chống chế nữa. Nếu tâm thắng thì chánh thắng tà, mà ý thắng thì tà thắng chánh. Nói đến đây, các con đã hiểu tâm thắng ý cũng do ta. Người luyện đạo muốn cho ai thắng cũng đặng. Tâm thắng thì thăng, ý thắng thì đọa. Liệu mà quyết định.

Đêm 17 rạng 18 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con. Đêm nay, Bát Nương giảng về bí pháp luyện đạo. Hôm qua nói về lục dục, hôm nay nói về thất tình. Thất tình là bảy tình: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục (mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, muốn) Tình dục là tình duy chủ. Tình dục là tình quan trọng. Nó có thể làm cho con người nên Tiên Phật mà cũng có thể làm cho con người thành quỉ ma. Kết quả của lục dục sinh thất tình.

Kết quả của thất tình sinh ra tham, sân, si. Tham là tham lam ham muốn, sân là giận hờn, si là ngu muội. Tham là thấy gì cũng ham muốn. Mà ham muốn thì tìm cách thu về cho mình làm chủ thụ hưởng. Lòng tham vô đáy. Tham là vị ngã. Ví dụ: người không có cơm ăn thì muốn có cơm ăn. Có cơm ăn rồi lại muốn có áo mặc. Có áo mặc rồi lại muốn có vòng vàng để trang sức, muốn đủ thứ.

Muốn mà không được sinh ra giận hờn, có giận hờn mới có hành động ngu muội, tức là gây ra tội tình. Như vậy, tham sân si là do tình mà ra cả. Tình dục làm cho con người thành quỉ ma là như vậy. Quỉ ma phải sa đọa, luân hồi chuyển kiếp. Nhưng tình dục cũng có thể làm cho con người thành Tiên Phật. Bởi vì kết quả lục dục sinh ra thất tình, mà kết quả thất tình không sinh ra tham sân si, vì dục tình biết cân nhắc, biết đo lường.

Trong thất tình, biết tánh nào hư thì bỏ, nên thì để. Dục là muốn, nếu không dục tức không muốn, không muốn tức không tham lam, không có tham lam thì không có sân si. Tình dục là tình duy chủ và quan trọng là như vậy. Trong cửa đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn đã để bí pháp luyện đạo tại đền thánh mà không ai biết. Các con vào đền thánh, qua khỏi Hiệp Thiên Đài, đến ngôi Hộ Pháp, khi quay nhìn lại, các con thấy gì?

Trước hết, các con thấy ba cái cẩm đôn bằng bông sen: chính giữa là cái dành cho Hộ Pháp, bên tả dành cho Thượng Sanh, bên hữu dành cho Thượng Phẩm. Ba cái cẩm đôn tượng trưng cho tinh, khí, thần. Cẩm đôn Thượng Sanh tượng trưng cho tinh, của Hộ Pháp tượng trưng cho khí, và của Thượng Phẩm tượng trưng cho thần. Ba cái cẩm đôn tượng trưng cho tinh, khí, thần tức là tam bửu.

Có một con rắn bảy đầu, tức thất đầu xà. Con rắn bảy đầu quấn ba cẩm đôn lại làm một tức là tinh, khí, thần hiệp nhất.. Bảy đầu rắn tượng trưng cho thất tình. Trong các tôn giáo khác, khi luyện tam bửu người ta hủy bỏ thất tình. Nhưng trong cửa đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy không bỏ hết, mà chỉ bỏ bốn lấy ba. Tôn giáo Cao Đài khác các tôn giáo khác là ở chỗ đó. Bỏ bốn là: nộ, ai, ố, dục.

Lấy ba là: hỉ, lạc, ái. Bốn đầu rắn bị bỏ gồm có: hai đầu bị đạp dưới hai chân, hai đầu kia bị đè bởi hai cánh tay của Hộ Pháp. Ba đầu rắn còn lại ngóc lên nhìn vào nê hườn cung của Hộ Pháp. Khi Hộ Pháp ngồi mới thấy ba đầu này. Hộ Pháp ngồi là luyện tinh hóa khí. Khi Hộ Pháp đứng lên thì khí đã hóa thần. Thần hườn hư là khi Hộ Pháp vào cung đạo chầu Chí Tôn, tức là vạn linh hiệp nhất linh.

Cho nên, trong thời cúng, Hộ Pháp ngồi là chưa cúng, khi cúng thì mới đứng lên. Khi ngồi, hai tay đè hai đầu rắn, hai chân đạp hai đầu rắn; đó là nộ, ai, ố, dục. Còn ba đầu ngóc lên là hỉ, ái, lạc. Tại sao ba đầu rắn tượng trưng hỉ, ái, lạc lại nhìn vào nê hườn cung của Hộ Pháp? Tại vì con người là hình ảnh của Đức Chí Tôn, mà Đức Chí Tôn bao giờ cũng hỉ, ái, lạc. Ái là thương yêu, mà thương yêu đâu có gì xấu.

Nộ là giận. Nộ mới xấu, vì nộ sinh ra tham sân si. Tham sân si mới là con đường dẫn chúng sanh vào kiếp luân hồi. “Thầy là cha của sự thương yêu, mà sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh.” Câu nói của Đức Chí Tôn đơn giản mà thâm diệu vô cùng. Thâm diệu ở chỗ nếu chúng ta suy ra sẽ thấy chân lý của sự thương yêu là vô tận. Lục dục thất tình khiến chúng ta tham lam tức là vị ngã.

Tham mà không được mới sinh ra sân si. Nếu chúng ta tham lam cho người khác tức là vị tha, tức là cho chúng sanh, lo cho nhân loại thì đâu có sân si. Nếu lo cho chúng sanh không được, buộc mình phải lo nữa, vì thương yêu phải lo nữa, lo cho đến khi nào chúng sanh được thì ta mừng vui, đâu có lý do gì để mà sân hận, ngu si. Đức Chí Tôn cũng vậy, ngài cũng vì thương yêu chúng sanh, tức là thương yêu con cái của ngài.

Ngài thấy chúng sanh bị đọa lạc nơi chốn hồng trần, không phương trở về ngôi vị cũ nên ngài mới lập đạo độ đời cứu rỗi chúng sanh. Lập đạo này không độ được thì ngài lập đạo khác, cho đến khi nào độ được mới thôi. Ngày nào mà vạn linh hiệp nhất linh thì đó là ngày vui chớ không phải là ngày sân hận được. Vậy bí pháp của chúng ta không bỏ hết thất tình mà chỉ bỏ bốn lấy ba là như vậy.

Đức Hộ Pháp cũng có nói trong phương luyện kỉ: “Phải biết thân thích cùng cả nhân vật, tức là tìm nguyên căn của vạn linh cùng chí linh. Phải ân hậu và khoan hồng. Phải thanh nhàn, đừng vị kỉ. Phải bình tĩnh, đừng chịu họa phước của buồn vui, tập tánh không không đừng nhiễm. Vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc buồn vui thấm vào chơn tánh. Phải độ lượng, khoan dung, tha thứ.

Phải vui vẻ, điều hòa, vi chủ và quyết đoán. Giữ linh tâm làm căn bản. Hiếu hạnh với Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.” Xem như vậy, Đức Hộ Pháp cũng không bỏ hết thất tình, không bỏ nhưng bớt và kềm hãm. Bớt như vậy là lắng đục tầm trong, kềm hãm như vậy để luyện tinh hóa khí.

Đêm 18 rạng 19 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con. Đêm nay, Bát Nương giảng tiếp về bí pháp luyện đạo. Hôm nay, trở lại vấn đề luyện tinh hóa khí. Cẩm đôn của Thượng Sanh tượng trưng cho tinh, cẩm đôn của Hộ Pháp tượng trưng cho khí, cẩm đôn của Thượng Phẩm tượng trưng cho thần. Sau lưng cẩm đôn của Hộ Pháp có chữ khí (viết bằng chữ Nho). Khí đây có nghĩa là không khí, là hơi thở của Tiên Thiên khí, là điển lực của Hỗn Ngươn khí, mà Hộ Pháp chủ chữ khí ấy.

Cho nên, khí làm trung gian giữa tinh và thần. Khí sẽ rút điển lực của Hỗn Ngươn khí từ nê hườn cung đưa vào nuôi óc, tức là nuôi trí não, và khí sẽ rút Âm Dương khí từ đơn điền đưa lên cũng để nuôi óc, tức là nuôi trí não. Hỗn Ngươn khí và Âm Dương khí gặp nhau sẽ tạo nên một ánh sáng, ta gom ánh sáng này thành một tia sáng rực rỡ, rồi lấy tia sáng này rọi qua Huệ quang khiếu, khiến cho Huệ quang khiếu mở ra, tức là đoạt đạo.

Bây giờ trở lại vấn đề luyện tinh hóa khí. Con người vì ăn mà gây ra tội tình quá lẽ, con người vì nói mà gây ra giận hờn. Nội hai việc ăn và nói này thôi đã gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi. Muốn tránh những tội lỗi đó, không gì tốt hơn là bớt ăn và bớt nói. Vì muốn bớt ăn và ít nói mà trong các nền tôn giáo xưa, người ta ăn ngọ, nghĩa là mỗi ngày chỉ ăn một lần vào bữa trưa mà thôi.

Có người vì quá nhiệt tình với cách nhịn ăn lại tuyệt thực hay tuyệt cốc. Như vậy không đúng. Nhịn ăn có nhiều cách: không ăn những món ăn gây ra tội tình như là sát hại sinh vật. Vì thế người ta ăn chay, ăn chay cũng có mục đích đem vật chất thanh vào cơ thể nữa. Nhịn ăn có nhiều cách. Khi người Nhật luyện tinh hóa khí, họ ăn gạo lức muối mè. Người Trung Hoa, Ấn Độ không ăn cá thịt mà chỉ ăn rau quả.

Khi người phương Tây ăn chay, họ chỉ cử thịt mà thôi, còn các món khác như: cá, tôm, cua, sò,ốc, trứng và các loại có cánh như chim, gà đều ăn được. Ở đây, Bát Nương chỉ cho các con ăn chay một cách trung dung. Khi luyện đạo thì ăn chay thông thường như nòi giống Việt Nam đã ăn chay, ăn như vậy cũng đủ rồi, cần yếu là đừng sát hại sinh mạng là được. Còn như muốn ăn chay cho mau có điển lực và mau trong sạch thể xác thì ăn như lối người Nhật đã ăn, nghĩa là ăn cơm gạo lức muối mè.

Ăn như vậy sẽ được thuần dương và tránh cho lục phủ ngũ tạng khỏi va chạm nhiều với vật chất mà sinh ra hao mòn bệnh hoạn. Nếu muốn thể xác nhẹ nhàng thì phải ăn chay một trong hai cách đó. Bây giờ đến bớt nói. Tại sao lại bớt nói? Tại vì tiếng nói vang đi rất xa, nó có âm ba như sóng điện. Nếu các con có huệ nhãn, các con sẽ thấy làn sóng điện đó như thế nào. Làn sóng điện đó như sóng gợn trên mặt nước và nó bay đi rất xa trong vũ trụ.

Các con nói nhiều không tốt. Nhiều khi tiếng nói cộc cằn thô lỗ của các con vang đến Thần, Thánh, Tiên, Phật thì đó là điều xúc phạm không thể tha thứ được. Hơn nữa, có nói thì có hỏi, có trả lời. Những lời qua tiếng lại như vậy sẽ sinh ra lục dục thất tình. Muốn bỏ lục dục thất tình thì phải bớt nói. Khi người xưa luyện đạo, họ bớt nói bằng cách tịnh khẩu, nghĩa là cả ngày không nói một tiếng nào, chỉ ra dấu khi cần thiết.

Thật ra, nói nhiều rất hao thần trí. Các con nghiệm xem, như cái radio phát ra tiếng nói nó hao pin như thế nào, thì nói nhiều cũng hao tổn thần trí như thế đó. Khi luyện tinh hóa khí phải bớt nói là như vậy. Bớt nói không có nghĩa là tịnh khẩu, không cần thiết phải tịnh khẩu. Bây giờ bớt nghe. Nghe cũng phải bớt vì nói và nghe đều hao thần trí. Nghe cũng sinh ra lục dục thất tình.

Nghe phải nghe vô, nghe lương tri, lương năng của mình hoạt động. Không nghe những tiếng vang bên ngoài, không nghe những lời bàn qua tán lại, không nghe những lời phê bình nịnh hót, không nghe những lời chỉ trích vu vơ. Như vậy, phải bỏ qua một cách tài tình những tiếng vang bên ngoài để bồi bổ thần trí. Khi luyện đạo cũng vậy, phải ở chỗ thanh tịnh, không có tiếng động, nhất là giờ tịnh luyện phải là giờ thứ 24, tức là 12 giờ khuya là tốt nhất.

Muốn bỏ lục dục thất tình thì ngũ giác quan phải kềm hãm tới mức tối đa, kềm hãm bất cứ giờ phút nào.

– Thấy mà không thấy,

– Nghe mà không nghe,

– Ngửi mà không ngửi,

– Nếm mà không nếm,

– Không đụng chạm đến thân thể khác phái,

– Không tư tưởng dục tình.

Có như vậy mới lánh đục tầm trong, có như vậy mới luyện tinh hóa khí được. Tóm lại: muốn luyện tinh cho hóa khí được, thì phải làm cho thể xác trong sạch, từ vật chất đến tinh thần, nghĩa là làm cho thể xác bốc hơi, rồi lấy số hơi này nuôi trí não. Muốn được vậy, trước hết phải làm cho thể xác cường tráng, trong sạch, nhẹ nhàng.

– Cường tráng: phải tập thể dục mỗi ngày hai lần sáng chiều và phải lấy Tiên Thiên khí nuôi Hậu Thiên khí

– Trong sạch: phải bỏ nhơn dục, theo thiên lý và kềm hãm ngũ giác quan đến mức tối đa.

– Nhẹ nhàng: phải trường chay, tuyệt dục; đây có nghĩa là tình dục, tức là tư tưởng dục tình, tức là sự giao cấu nam nữ, chứ không phải dục là muốn.

Đêm 19 rạng 20 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con. Đêm nay, Bát Nương giảng tiếp về bí pháp luyện đạo. Có những dấu hiệu sau đây cho ta biết tinh đã hóa khí: các con cảm thấy trong mình thơi thới nhẹ nhàng, thần trí sáng suốt, ăn ngon, ngủ yên, không có chiêm bao ác mộng, vui vẻ, yêu đời, yêu cảnh vật, dương quang tràn đầy nhựa sống. Nhưng các con để nhựa sống đó thuận chuyển, tức là đi xuống, nghĩa là xuất tinh, thì trở thành một chất nước, đem tinh trùng đi thụ thai tạo thành hài nhi mới.

Vậy các con phải làm cho nó nghịch chuyển, nghĩa là đưa lên óc. Khi bị nghịch chuyển, nó sẽ biến thành chất hơi gọi là Âm Dương khí chất. Hơi này ai có huệ nhãn thì mới thấy.(Cách làm cho biến thành Âm Dương khí sẽ nói rõ ở phần thực hành) Chuyển Âm Dương khí lên óc để nuôi óc, tức là nuôi trí não, tức là luyện khí hóa thần. Biến nó thành chất hơi là luyện tinh hóa khí, đem hơi lên nuôi óc là luyện khí hóa thần.