3. Luyện Thần Hườn Hư
Luyện thần hườn hư là làm cho chơn thần tuy xuất ra khỏi thể xác mà vẫn còn liên lạc với thể xác qua sợi dây từ khí. Luyện thần hườn hư là luyện cho sợi dây từ khí có năng lực thun giãn vô tận, nghĩa là lúc chơn thần xuất ra rồi có thể đi thật xa mà dây từ khí vẫn kéo dài mãi không dứt. Mỗi đêm phải luyện cho đến lúc sợi dây từ khí biến thành một làn sóng điện phát đi rất xa.
Chơn thần đi khắp càn khôn vũ trụ mà vẫn còn liên lạc với thể xác một cách dễ dàng, cũng như các vệ tinh thám hiểm trong vũ trụ đi thật xa mà vẫn còn liên lạc và phát hình về trái đất một cách rõ ràng. Chơn thần xuất ra được rồi, dĩ nhiên là sẽ diện kiến cùng các đấng thiêng liêng, hoặc giả ta được hồng ân của Đức Chí Tôn là diện kiến với ngài. Chừng đó ta sẽ nhận được những sự chỉ dạy cần thiết của Đức Chí Tôn.
Và tùy theo căn cơ của mỗi người mà quyền thiêng liêng cho biết đến mức độ nào thôi, chớ không thể nào mỗi người đều được hiểu biết rõ ràng về mạng căn số kiếp của mình; vì như vậy, có thể có nhiều người không còn muốn sống nữa, họ tự vận đi mà chớ. Hiểu biết để mà hiểu biết, rồi quay lại trần gian để sống cho trọn kiếp sanh, để mà lập công đoạt vị hoặc là trả cho xong mối nợ tiền khiên, chớ không phải hiểu biết rồi quỵt nợ luôn.
Chơn thần xuất ra rất khó. Để đến phần thực hành, Bát Nương sẽ nói rõ thêm. Bây giờ Bát Nương nói tiếp. Khi chơn thần xuất ra rồi, điều cần thiết là luyện cho sợi dây từ khí biến thành làn sóng điện để liên lạc giữa thể xác và chơn thần. Còn việc ta muốn đi đâu và gặp ai thì lại phải cầu xin với Đức Thượng Phẩm. Nếu được thì Đức Thượng Phẩm điều khiển cây Long tu phiến giúp chơn thần ta đến nơi mà ta muốn đến, gặp người mà ta muốn gặp.
Phần luyện thần hườn hư rất quan trọng. Phần này, nếu ở Trí Huệ cung hay Vạn Pháp cung, phải có người canh giữ giờ giấc, canh giữ thể xác không cho ai lại gần, không cho có tiếng động, không cho ai rờ mó vào thể xác. Vì như thế, chơn thần bị xao động, lật đật trở về thể xác, làm cho sự diện kiến với các đấng thiêng liêng bị trở ngại. Người canh giữ cứ để thể xác tự nhiên, yên tịnh.
Nhiều khi chơn thần xuất ra thể xác còn ngồi, nhiều khi thể xác nằm xuống, cứ để nguyên, chừng nào họ dậy như người thức dậy, chớ đừng lay gọi. Thời gian xuất chơn thần có thể 30 phút hoặc vài ba tiếng đồng hồ là cùng. Luyện đạo như cất một cái nhà. Thế thường, bất cứ ai muốn cất một cái nhà trước hết phải xây nền. Nền có vững chắc thì nhà mới không sụp đổ. Cũng như đi học, muốn vào đại học, phải học từ lớp 1 đên lớp 12.
Học cho có căn bản thì vào đại học mới nổi. Luyện đạo cũng vậy, muốn có kết quả, ta phải xét lại bản thân, coi phần nhơn đạo và thiên đạo đã xong chưa. Nếu chưa, ta không nên vội vã vào phần luyện đạo, bởi dù có luyện đạo cũng không có kết quả. Luyện đạo ở tuổi 40 đến 60 là tốt nhất. Dưới tuổi 40 chưa đủ phần công quả, trên 60 thì thể xác đã già nua, tinh thần bạc nhược, không đủ sức luyện đạo.
Vào Trí Huệ cung hoặc Vạn Pháp cung phải qua phần lựa chọn của Hội thánh. Vì Hội thánh là hình thể của Đức Chí Tôn, tiếng nói của Hội thánh là tiếng nói của Đức Chí Tôn, Hội thánh công nhận tức Đức Chí Tôn công nhận. Tiêu chuẩn để Hội thánh công nhận:
1) Phải qua phần nhơn đạo và thiên đạo, tức là phải có đủ tam lập hoặc một phần trong tam lập. Phần này rất cần thiết như là xây nhà phải cất nền.
2) Thể xác khỏe mạnh, không bệnh tật, nếu cần phải qua khám nghiệm y khoa.
3) Trong tuổi ấn định từ 40 đến 60, trừ trường hợp Hội thánh giảm chế vì lý do đặc biệt.
4) Trình độ văn hóa tú tài trở lên.
Trong 4 phần này, có thể có phần ngoại lệ do Hội thánh quyết định. Luyện đạo có hai cách:
1) Luyện đạo cho một người, luyện đạo tại gia:
Phần này dành cho những người nào nhận thấy mình có đủ tam lập hoặc một phần trong tam lập mà chưa được Hội thánh công nhận vì lý do này hay lý do khác. Phần luyện đạo một người cũng dành cho những vị chán nản cuộc đời, không ham lợi quyền, muốn theo chân Đức Chí Tôn cứu độ chúng sanh. Những vị này có tiền căn cao trọng nên có thể luyện đạo một mình. Muốn luyện đạo một mình, phải theo dõi phần luyện đạo thực hành mà Bát Nương giảng tiếp.
2) Luyện đạo tập thể:
Phần này phải vào Trí Huệ cung (phái nữ), Vạn Pháp cung (phái nam). Vì hai nơi này do thánh ý của Đức Chí Tôn chỉ định và do Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đã chọn rồi. Hai nơi này sẽ có giảng sư chỉ dạy và có phương pháp riêng theo dõi từng người qua mỗi đêm tịnh và luyện. Thời gian luyện và tịnh là 100 ngày, mỗi ngày 30 phút: 15 phút luyện, 15 phút tịnh. Vì là tập thể nên cứ 12 người một phòng, mỗi phòng 12 giường.
Mỗi phòng có đủ mùng, mền chiếu, gối. Ăn có phòng riêng, học có phòng riêng. Phòng nghỉ cũng là phòng luyện đạo. Trên mỗi đầu giường có một cái kệ, trên kệ có một sổ tay và một cây viết. Người luyện đạo có thể chép những gì xảy ra hay là những gì mà họ hay biết trong khi luyện đạo. Họ có thể nêu lên những câu hỏi trong cuốn sổ này. Sổ này chỉ có giảng sư biết mà thôi, bởi mỗi người mỗi căn cơ, mỗi người có sự hiểu biết riêng, nên cũng tuỳ theo đó mà giảng sư chỉ dạy riêng.
Người này không được biết sự chỉ dạy của giảng sư cho người khác. Cứ mỗi giường có một cái tủ cho người luyện đạo thu xếp vật dụng vào trong đó. Một trăm ngày luyện đạo gồm có:
– 50 ngày luyện tinh hóa khí.
– 40 ngày luyện khí hóa thần.
– 10 ngày luyện thần hườn hư.
Thời khóa 100 ngày luyện đạo như sau:
– 5 giờ sáng: thức dậy, thể dục.
– 6 giờ: lau mình, tắm rửa, điểm tâm.
– 8 giờ: học giáo lý Tam giáo và Cao Đài.
– 9 giờ: học cách luyện đạo, giáo lý và thực hành.
– 11 giờ: cơm trưa.
– 12 giờ: nghỉ trưa.
– 14 giờ: học giáo lý Tam giáo và Cao Đài.
– 16 giờ: thể dục, tắm rửa, cơm chiều.
– 18 giờ: cúng thời Dậu, chỉ cúng một thời trong 4 thời.
– 24 giờ: luyện đạo: 15 phút luyện, 15 phút tịnh.
Hội Thánh sẽ soạn Giáo lý của Tam giáo và Giáo lý của Cao Đài, tức là Giáo lý của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cho phù hợp với trình độ hiểu biết. Chú ý: giáo lý của tam giáo chỉ phớt qua phần tinh túy mà thôi, còn giáo lý Cao Đài phải nói cặn kẽ vì Cao Đài hiện nay là chánh đạo. Câu kệ khai trống Lôi Âm chứng minh điều đó:
Lôi Âm thánh cổ triệt hư không, Truyền tấu càn khôn thế giới thông. Đạo pháp đương kim dương chánh giáo, Linh quang chiếu diệu Ngọc Hư cung.
“Đạo pháp đương kim dương chánh giáo” là như vậy. Vì là chánh giáo nên Đức Chí Tôn mở cơ tận độ chúng sanh, chẳng những tận độ ở mặt địa cầu này mà còn tận độ ở các cảnh giới khác. Câu kệ khai chuông Bạch Ngọc chứng minh điều đó:
Thần chung khấu hướng phóng Phong đô, Địa tạng khai môn phóng xá cô. Tam kì vận chuyển kim quang hiện, Sám hối âm hồn xuất u đồ.
Cảnh giới nào cũng độ, cho tới cảnh giới Phong đô cũng tận độ. “Sám hối âm hồn xuất u đồ ” là như vậy. Làm sáng tỏ hai bài kệ này, chúng ta thấy đạo Cao Đài quyền năng vô tận, vô biên. Nhất là làm sáng tỏ hai câu liễn trước Hiệp Thiên đài, thì ta thấy giáo lý Cao Đài rộng rãi, bao la, huyền diệu không thể nào diễn tả:
– Hiệp nhập Cao Đài, bá tánh thập phương qui chánh quả.
– Thiên khai huỳnh đạo ngũ chi tam giáo hội Long Hoa.
Chỉ có vào đạo Cao Đài, bá tánh thập phương mới thành chánh quả và chỉ có vào đạo Cao Đài mới được dự hội Long Hoa. Đối với đời, đối với thế tình, chỉ cần làm rõ ý nghĩa hai câu liễn trước chánh môn là đủ:
– Cao thượng Chí Tôn đại đạo hòa bình dân chủ mục.
– Đài tiền sùng bái tam kì cộng hưởng tự do quyền.
Đừng sợ giáo lý Cao Đài eo hẹp. Thực ra giáo lý Cao Đài trùm lên các giáo lý khác. Bởi các nền tôn giáo khác do Đức Chí Tôn phân tánh giáng trần lập đạo, làm sao hơn nổi nền tôn giáo mà chính Đức Chí Tôn trực tiếp đứng ra thành lập. Hơn nữa, các nền tôn giáo khác lập ra trong thời kì Thượng ngươn tối cổ hay là Trung ngươn trung cổ cũng vậy. Thời đó nhân loại chưa có văn minh tiến bộ, văn hóa chưa được phát triển tối đa, từ ngữ diển tả tư tưởng hay tâm lý chưa có, nếu có cũng rất đơn sơ, làm sao diễn tả tột cùng giáo lý cao siêu cho đặng.
Còn phần luyện đạo thì khẩu khẩu tâm truyền, làm sao cho khỏi tam sao thất bổn. Cho nên, nhơn loại tu thì nhiều mà thành thì ít, đến nay đã thất truyền. Ngày nay, chính Đức Chí Tôn giáng trần lập đạo. Ông thầy của chúng ta là ông thầy Trời, với thời gian thất ức niên, với mục đích cứu rỗi 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị. Thất ức niên so với không gian, thời gian và so với tuổi thọ của địa cầu này thì không có bao nhiêu.
Đức Chí Tôn lâp đạo lần này không phân tánh giáng trần như những lần trước, mà giáng trần bằng thiêng liêng cơ bút, giáng trần không có hình thể, không có tiếng nói mà có lời nói. Hình thể chúng ta là thể xác, trí não và linh hồn, tức là tinh, khí, thần hiệp lại. Hình thể Đức Chí Tôn là đền thánh đó vậy. Đền thánh có: Cửu Trùng đài, Hiệp Thiên đài, Bát Quái đài.
– Cửu Trùng đài tượng trưng cho thể xác.
– Hiệp Thiên đài tượng trưng cho trí não.
– Bát Quái đài tượng trưng cho linh hồn.
Đền thánh là hình thể Đức Chí Tôn tại thế đó vậy. Hình thể này không có quyền lực nào hủy diệt được. Hình thể này sẽ sống với chúng ta cho đến thất ức niên. Đức Chí Tôn không có tiếng nói mà ở đâu cũng có lời nói. Những lời nói này sẽ còn nói mãi với chúng ta. Thoạt tiên tới chánh môn, ta thấy có một tấm bảng lớn, trong bảng này có ghi 6 chữ: Đại Đạo Tam Kì Phổ Độ bằng chữ Nho và chữ quốc ngữ.
– Đại Đạo: hiểu theo nghĩa thông thường là một con đường lớn, con đường rộng rãi thênh thang, ai đi trên đó cũng được; hay là một tôn giáo lớn, một đạo lớn.
– Tam Kì: hiểu theo nghĩa đơn giản là lần thứ 3 mà cũng có nghĩa là lần chót. Nhứt quá tam là như vậy đó.
– Phổ Độ: hiểu theo nghĩa từng chữ thì đó là phổ thông rộng lớn, cả nhân loại trên địa cầu này chứ không hạn chế, không gò bó trong một sắc dân, một quốc gia.
Độ là dìu dắt, là độ rỗi, còn có nghĩa là cứu vớt, mà cứu vớt là tha thứ đó vậy. Nghĩa chung là: một tôn giáo lớn mở ra lần chót để độ rỗi chúng sanh. Hai bên tấm bảng ĐĐTKPĐ có hai câu liễn viết bằng chữ Nho:
– Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hòa bình dân chủ mục.
– Đài tiền sùng bái Tam Kì cộng hưởng tự do quyền.
Nghĩa là: Đức Chí Tôn giáng trần kì này với danh xưng là Cao Đài, Cao thượng, Đài tiền là như vậy. Thánh ngôn với câu: Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài giáo đạo Nam phương là như vậy. Đức Chí Tôn là ông Cao Đài, ông Cao Đài là Thượng Đế, là ông Trời. Ông Trời nói: Ta mở ra cho nhơn loại nơi mặt địa cầu này một nền tôn giáo lớn là để dìu dắt nhơn loại đi vào con đường hòa bình dân chủ.
“Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hòa bình dân chủ” là như vậy. Ông Trời nói: nếu nhơn loại muốn hòa bình dân chủ thì hãy vào đây, vào cửa Cao Đài và nghe ta dạy. Hãy tín ngưỡng nơi ta, tín ngưỡng lẫn nhau. Sùng bái và tin tưởng, có tin tưởng mới có sùng bái, tin tưởng lần thứ ba mà cũng là lần chót. “Đài tiền sùng bái Tam kì cộng hưởng tự do quyền” là như vậy. Hòa bình, dân chủ, tự do ở đây không phải có một cá nhân ban cho một cá nhân, không phải của một đoàn thể đảng phái ban cho một quốc gia dân tộc mà là của ông Trời ban cho toàn nhơn loại.
Nhơn loại muốn có hòa bình, dân chủ, tự do thật sự thì chỉ có tin tưởng nơi Thượng Đế rồi sùng bái Thượng Đế là đấng Cha chung và cả nhơn loại là anh em ruột thịt với nhau. Chừng nào, giờ phút nào mà toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu này tin tưởng như vậy và làm như vậy thì giờ phút đó mới có hòa bình, dân chủ, tự do thật sự. Còn trái lại là giả dối. Đức Chí Tôn không có tiếng nói mà có lời nói là như vậy.
Đức Chí Tôn mở đạo lần này là lần chót, mục đích cứu rỗi chúng sanh, cứu rỗi cả phần xác lẫn phần hồn, nghĩa là dẫn dắt chúng sanh vào con đường nhơn đạo và thiên đạo. Nhơn đạo là dạy dỗ chúng sanh biết yêu thương lẫn nhau, tin tưởng lẫn nhau, đối xử công bằng với nhau để có hòa bình, dân chủ,tự do thật sự, không có chiến tranh chết chóc, không có nghèo đói đau thương, tức là cứu rỗi phần xác, tức là giải khổ phần xác, tức là dạy dỗ chúng sanh làm tròn nhơn đạo đó vậy.
Bây giờ đến phần thiên đạo, tức là cứu rỗi phần hồn. Hai câu liễn trước chánh môn dẫn dắt nhơn loại lo tròn nhơn đạo để giải khổ phần xác. Bây giờ nói đến đền thánh. Đền thánh tượng trưng cho hình thể Đức Chí Tôn. Khi đứng trước đền thánh, trước mắt Đức Chí Tôn, chúng ta thấy gì? Trước hết là Hiệp Thiên đài. Hiệp Thiên đài là mặt tiền. Đền thánh gồm có: một cửa chánh và hai lầu cao gọi là lầu chuông và lầu trống.
Cửa chánh gọi là chánh điện, trên chánh điện có bao lơn. Có 6 chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Trên 6 chữ này là Thiên nhãn. Trên Thiên nhãn là mái ngói của chánh điện. Trên mái ngói có hình Đức Phật Di Lạc cỡi cọp. Tất cả hình tượng ở trước mặt Hiệp Thiên đài là những lời nói tiềm tàng, ẩn hiện giáo lý của Đức Chí Tôn. Những lời nói đó là những chân lý có giá trị tuyệt đối.
Cặp hai bên tấm bảng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trước Hiệp Thiên đài có hai câu liễn (câu đối) khác. Trên đầu hai câu liễn có hai chữ Nho: NHƠN–NGHĨA. Hai câu liễn viết bằng chữ Nho như sau:
– NHƠN: Hiệp nhập Cao Đài, bá tánh thập phương qui chánh quả.
– NGHĨA: Thiên khai Huỳnh đạo, ngũ chi tam giáo hội Long Hoa.
Hai câu liễn này dạy chúng sanh lo tròn Nhơn đạo, tức là nhơn-lễ-nghĩa-trí-tín và còn có mục đích dạy chúng sanh lo tròn Thiên đạo. Nếu ghép hai chữ đầu tiên của hai câu liễn này, ta thấy có hai chữ Hiệp Thiên, tức là Hiệp Thiên đài. “Hiệp nhập Cao Đài, bá tánh thập phương qui chánh quả” có nghĩa tổng quát là nhơn loại 10 phương hãy hội hiệp lại trong cửa đạo Cao Đài này, tức là trong lòng của Đức Chí Tôn, trong lòng của ông Trời để học hỏi luật thương yêu và quyền công chánh.
Có thương yêu bình đẳng mới về được cực lạc niết bàn. “Thiên khai Huỳnh đạo, ngũ chi tam giáo hội Long Hoa” nghĩa là ông Trời mở đạo vàng, đạo quí, đạo chánh, không phải tả đạo bàng môn, không mê tín dị đoan. Đạo có luật pháp, có chân lý, có giáo lý, có khoa học, triết học, có kinh có kệ, có thể pháp, có bí pháp; tức là đạo có khả năng độ rỗi cả phần xác lẫn phần hồn.
“Ngũ chi tam giáo hội Long Hoa”: ngũ chi là năm nhánh nhỏ, tam giáo là ba cội lớn. “Ngũ chi tam giáo ” là qui tụ năm nguyên tắc nhỏ của Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo. Nói chung là cả chúng sanh, cả nhơn loại, dù theo tôn giáo nào, giáo lý nào, nguyên tắc nào cũng có thể qui tụ lại, hội hiệp lại trong cửa đạo Cao Đài này, trong lòng Đức Chí Tôn đây, để Đức Chí Tôn sắp đặt ngôi vị, đẳng cấp thiêng liêng, tức là tuyển phong Phật vị, tức là hội Long Hoa.
Ngoài ra, ta còn có thể hiểu rõ thêm qua các câu kinh: “Thâu các đạo hữu hình làm một, Trường thi Tiên Phật dượt kiếp khiên”. Mỗi hình ảnh, mỗi hiện tượng, mỗi việc làm trước Hiệp Thiên đài là một lời nói, một ý nghĩa ẩn tàng sâu xa của Đức Chí Tôn. Trong phạm vi bí pháp luyện đạo, Bát Nương chỉ nói những gì liên quan thôi, chớ Đức Chí Tôn nói rất nhiều về Nhơn đạo và Thiên đạo, về thể pháp và bí pháp, về huyền vi mầu nhiệm của càn khôn vũ trụ, về quyền năng của Đức Chí Tôn, về bổn phận của chúng ta.
Còn nữa,… Nếu chúng ta bước vào đền thánh, qua cửa chánh điện, tức là cửa Hiệp Thiên đài, ta thấy hai bên có hai cột chỏi bao lơn: một cây chạm hình rồng, một cây chạm hình bông sen. Rồng là Long, sen là Hoa. Vào cửa Hiệp Thiên đài tức là vào hội Long Hoa đó vậy. Đứng giữ bốn cột Long Hoa, nguớc lên trần, ta thấy có vẽ một cái cân nhỏ giống như cân tiểu ly. Cân này nằm trên quả địa cầu.
Trên cán cân có một bàn tay thiêng liêng cầm cân nảy mực. Đó là cân công bình thiêng liêng. Đức Chí Tôn dùng cân này để cân tội phước mà định ngôi vị cho cả chúng sanh. Bước tới một bước nữa, ta thấy tượng tam Thánh.
– Người thứ nhất: ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức TrạngTrình, văn hào Việt Nam.
– Người thứ hai: ông Tôn Trung Sơn, tức Tôn Dật Tiên, nhà cánh mạng Trung Hoa.
– Người thứ ba: Nguyệt Tâm chơn nhơn, tức ông Victor Hugo, văn hào nước Pháp.
Trong thời hạ ngươn tam chuyển, Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ba vị này đại diện cho nhơn loại kí với Đức Chí Tôn một hòa ước, nói cho đúng là một giao ước. Nhưng lạ thay, bản giao ước này chỉ có một điều khoản mà thôi: đó là công bình và bác ái. Trong hình, ta thấy ông Tôn Dật Tiên cầm nghiên mực, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cầm bút lông mèo viết hàng chữ Nho: Thiên thượng- Thiên hạ, Bác ái- Công bình.
Thiên thượng là Trời trên, là Đức Chí Tôn. Thiên hạ là Trời dưới, là chúng sanh. “Thiên thượng -Thiên hạ” tức là Thượng Đế và nhân loại. Kế đó, ông Victor Hugo cầm bút lông chim viết hàng chữ Pháp: DIEU et HUMANITÉ, AMOUR et JUSTICE. Nghĩa là Trời và người, bác ái và công bình Nguyên bức tượng này có nghĩa chung là: Thượng Đế và nhơn loại giao hẹn với nhau rằng: nhơn loại thương yêu nhau và mọi người bình đẳng trước Thượng Đế.
Đối lại, nếu nhơn loại làm đúng điều khoản này thì Thượng Đế sẽ lập ngôi vị, đẳng cấp thiêng liêng cho cả chúng sanh. Hội Long Hoa tức là chúng sanh hội hợp lại cho Đức Chí Tôn xét công định vị. Cả nhơn loại, ai có thương yêu thì có ngôi vị. Thương yêu càng nhiều, ngôi vị càng cao. Câu Thánh ngôn: “Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh” là như vậy. Qua khỏi Hiệp Thiên đài, thêm 9 nấc nữa thì vào Cửu Trùng đài.
Mỗi nấc cao cách nhau 2 tấc. Cửu Trùng đài tượng trưng cho thể xác Đức Chí Tôn. Cửu Trùng đài là Cửu Thiên Khai Hóa mà cũng là cửu phẩm Thần Tiên. Ngôi vị của chúng sanh được ấn định trên 9 nấc này. Trước khi bước lên nấc thứ nhất, ta thấy ngai thất đầu xà của Đức Hộ Pháp. Ngai thất đầu xà này là bí pháp luyện đạo mà Đức Chí Tôn ban cho chúng sanh, ban cho cửu nhị ức nguyên nhân, tức là 92 ức nguyên nhân.(Bát Nương đã nói ngai thất đầu xà ở phần phía trước).
Chín nấc Cửu Trùng đài, mỗi nấc cao hơn nhau hai tấc. Đó là huyền vi mầu nhiệm của trời đất. Mỗi nấc có hai cột rồng hai bên. Cột rồng lớn đứng trên bông sen lớn ngụ ý Long Hoa đại hội. Có một điều đặc biệt là: nếu mỗi nấc cao hơn nhau 2 tấc, dĩ chí nấc thứ 9 phải cao hơn nấc đầu tiên là 1m8. Vậy mà đứng tại Hiệp Thiên đài ngó vào Bát Quái đài, ta thấy mỗi nấc cũng mỗi cao, chỉ có những đầu rồng trên những cây cột từ trong ra ngoài lại bằng nhau.
Nếu lấy thước đo thì đầu rồng này vẫn cao hơn đầu rồng kia 2 tấc. Đó là huyền vi mầu nhiệm của trời đất. Tạm thời Bát Nương cho một phương trình là:
9 × 2 × 2 × 2 / 12
Con số 12 là con số khóa của môn toán học mà cũng là con số riêng của Thầy. Cúng Thầy 12 lạy là như vậy. Con số 6 là số mà về sau này sẽ có những nhà khoa học và toán học giải rõ. Cũng như Kim Tự Tháp của Ai Cập đã có những nhà toán học lấy kích thước của những viên đá xây nền mà giải ra được những lời tiên tri của thế hệ trước về những gì xảy ra cho thế hệ sau. Lời nói của Đức Chí Tôn, ở đâu cũng có những lời nói rõ ràng như những câu liễn trước chánh môn và trước cửa Hiệp Thiên đài.
Mặc dầu rõ ràng nhưng ý nghĩa rất thâm sâu, mới đọc qua chưa chắc đã hiểu hết. Ngoài ra, còn có những lời nói tiềm tàng trong các hình ảnh mà ta thấy đầy dẫy trước Hiệp Thiên đài, trong Cửu Trùng đài và Bát Quái đài. Ví dụ: tại Cửu Trùng đài, trên những plafond dù (plafond hình mái vòm), ta thấy có 6 con rồng tranh nhau một quả châu. Hình ảnh này ngụ ý câu kinh: “Thời thừa lục long, du hành bất tức ”.
Ngoài ra, còn có nghĩa là đền thánh được xây trên một khoảng đất địa linh, phía dưới có 6 con rồng đoanh lại, một đầu đưa ra ao hồ, một đầu đưa ra suối vàng, còn 4 đầu kia đưa ra 4 hướng đông-tây- nam-bắc. Còn nữa,… còn rất nhiều hình ảnh tượng trưng cho lời nói của Đức Chí Tôn. Khi ta đến nấc thứ 9 Cửu Trùng đài, ta thấy một ngai của Giáo Tông, ba ngai của Chưởng Pháp, ba ngai của Đầu Sư.
Bảy ngai này tượng trưng cho nhơn đạo của con người. Qua khỏi bảy ngai này là vào cung đạo. Cung đạo là nơi để Hộ Pháp và chức sắc Hiệp Thiên đài vào làm lễ Đức Chí Tôn, mà cũng là nơi các đấng thiêng liêng giáng cơ dạy đạo. Đứng tại cung đạo ngó lên trần, ta thấy một tấm bảng hình quả trám, trong đó có một đầu người tượng trưng cho huyền quang khiếu, một cách tay cầm bút túc là chấp bút, một Thiên nhãn, những mẫu tự A-B-C, một bộ đại ngọc cơ, một tiểu ngọc cơ…
Đó là phương tiện giao tiếp giữa hữu hình và vô hình, đó là những lời tiên tri tiềm tàng ẩn hiện. Đồng thời ta ngó vào Bát Quái đài, thấy một quả càn khôn có ba ngàn tinh tú, bên tả có nhựt, bên hữu có nguyệt. Đó là hình ảnh tượng trưng giaó lý của Đức Chí Tôn dạy về thiên đạo, dạy về sự mầu nhiệm của càn khôn vũ trụ. Khi chúng ta đoạt pháp, đạt đạo, tự khắc chúng ta sẽ biết những bí pháp này một cách dễ dàng.
Còn nữa, Đức Chí Tôn còn nói nữa. Nếu ta lên phía trên cửa Hiệp Thiên đài, ta thấy trên chót của lầu chuông, lầu trống có hai giỏ hoa lam. Trên nóc Cửu Trùng đài có Nghinh Phong đài, trên chót của Nghinh Phong đài có một con long mã đứng trên quả địa cầu, đầu của nó hướng về bản đồ Việt Nam. Sau cùng trên chót Bát Quái đài có ba vị Phật là: Brahma, Civa, Christna. Ba vị này hướng về ba phía đông-nam-bắc, còn hướng tây thì để trống.
Những hình ảnh này là lời tiên tri của Đức Chí Tôn, khi đoạt đạo thì ta mới biết. Đền thánh hàm chứa rất nhiều bí mật. Sau này, người đời khám phá ra, thì chừng đó đền thánh lại càng linh thiêng và cao quí hơn. Những bí mật này, chính Bát Nương cũng không được nói ra. Đức Chí Tôn để cho nhơn loại khám phá ra mới có giá trị. Bát Nương chỉ tiết lộ được hai điều:
– Thứ nhất: đầu con long mã hướng về bản đồ nước Việt Nam ứng vào câu Thánh ngôn của Đức Chí Tôn:
Việt Nam tuy nhỏ nhoi hơn vạn quốc mà về sau làm chủ vạn quốc mới là kì.
– Thứ hai: trong Bát Quái đài, phía dưới có một cái hầm, trên hầm có một cây trụ để đỡ quả càn khôn. Từ dưới cung đạo bước lên, trụ này có 12 nấc, mỗi nấc là một lời tiên tri bí mật. Có một nấc, Đức Chí Tôn tiên tri ngày, giờ, tháng, năm mà Đức Chí Tôn sẽ mở hội Long Hoa tại thế. Ngày giờ này chỉ có nhà bác học uyên thâm mới khám phá ra được.
Đức Chí Tôn còn nói rất nhiều, nhưng vì nhơn loại thiếu tin tưởng nên không nghe, không thấy, không biết. Đối với chúng ta, mỗi ngày đến đền thánh, vào trong lòng của Đức Chí Tôn, ngồi ngâm nga đọc kinh mà vẫn có nhiều người chưa biết Đức Chí Tôn đã nói những gì. Nội một câu: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp ” mà đã có nhiều người chưa hiểu rồi. Phải có thành khẩn, phải có tín ngưỡng hiệp lại mới có đạo.
Mà đạo là gì? Đạo là không mà có, có mà không. Trong cái không có cái có, trong cái có có cái không. Theo sự hiểu biết tầm thường của chúng ta thì không thể nào hiểu đạo được. Phải tin tưởng rằng: trong cái không sẽ có cái có. Tin tưởng tức là tín ngưỡng. Có tin tưởng rồi phải quyết tâm tìm cho ra cái có, mà quyết tâm là thành khẩn vậy. Các nhà khoa học ngày nay tin tưởng rằng ngoài trời đất này còn có nhiều địa cầu nữa.
Họ tin tưởng như vậy cho nên họ quyết tâm tìm tòi. Và nhờ quyết tâm tìm tòi mà họ chứng minh được có 9 quả địa cầu nữa. Họ đặt tên là: mộc tinh, hỏa tinh, thủy tinh, kim tinh… Cũng nhờ tìm tòi mà họ khám phá ra nguyên tử năng và siêu vi khuẩn… Trong cái không mà có cái có là như vậy. Nếu chúng ta quyết tâm tìm tòi, chúng ta cũng tìm được đạo vậy. Mà có đạo tức là có Đức Chí Tôn.
Có Đức Chí Tôn thì phải tin lời Đức Chí Tôn. Nội một câu: “Thầy là các con, các con là Thầy”, Đức Chí Tôn đã nói lên trọn vẹn quyền năng của ngài và bổn phận của chúng ta. Với từ ngữ hiện nay, nếu ta lấy câu này làm luận án cho môn thần học thì chúng ta có thể viết thành cuốn sách dài hàng mấy ngàn trang cũng chưa đủ. Để Bát Nương triển khai một đoạn làm mẫu cho các con thấy giáo lý Cao Đài cao siêu rộng rãi như thế nào: “Thầy là các con”.
Thầy là ông trời, các con là chúng ta. Ông trời muốn gì? Chúng ta muốn gì? Chúng ta muốn hưởng thụ, tức vị ngã. Ông trời muốn cho, tức vị tha. Muốn cho nghĩa là muốn thêm phước giảm tội. “ Ngọc Hoàng tích phước hựu tội Đại Thiên Tôn” là như vậy. Chúng ta vì vị ngã mới sanh ra tham-sân-si. Vị tha sanh ra hỉ-ái-lạc. Tham-sân-si phải luân hồi chuyển kiếp. Hỉ-ái-lạc sẽ về cực lạc niết bàn.
Luân hồi chuyển kiếp thì khổ. “ Thầy là các con” tức là ông trời muốn làm cho chúng ta hết khổ. Vinh diệu thay cho hỉ-ái-lạc! Chỉ có hỉ-ái-lạc mới làm được việc này, chỉ có Đức Chí Tôn mới làm được việc này. Bây giờ đến câu “Các con là Thầy ”. “Các con” đây là cả tín đồ Cao Đài và cả chúng sanh. Chúng ta là trời, Đức Chí Tôn bảo chúng ta làm trời, tức là Đức Chí Tôn bảo chúng ta vị tha, đừng vị ngã.
Đức Chí Tôn bảo chúng ta hỉ-ái-lạc chớ đừng tham-sân-si. Đức Chí Tôn bắt chúng ta thọ khổ cho chúng sanh hết khổ. Khi mở đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn nói: “Thầy là cha của sự thương yêu, mà sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh”. Chỉ có thương yêu mới vị tha, không vị ngã. Chỉ có thương yêu mới dám thọ khổ cho chúng sanh hết khổ. Bao giờ chúng ta thọ khổ thì cả chúng sanh hết khổ vậy.
Tóm lại: vị tha là trời, vị ngã là chúng sanh. Nếu ai có căn cơ cao trọng, khi đọc tới đây thì đã ngộ đạo rồi, mà ngộ đạo là thành Phật, là giải thoát đó vậy. Xưa kia, khi mới xuất gia tầm đạo, Đức Thích Ca theo 4 vị sư lên núi tu theo lối khổ hạnh để thành Phật, tự ép mình đến nỗi gần chết mà vẫn không thành Phật. Lúc đó, Đức Thích Ca vẫn còn vị ngã, nghĩa là vẫn còn muốn thành Phật.
Đến khi Đức Thích Ca xuống núi, vào rừng ngồi dưới cội bồ đề mà nguyện rằng: “Tôi quyết tìm chân lý giải khổ cho chúng sanh. Nếu không được thì tôi sẽ không ra khỏi chỗ này”. Lúc đó, Đức Thích Ca lại thành Phật, vì ngài không còn vị ngã nữa. Lo cho chúng sanh tức là vị tha đó vậy. Đó, Bát Nương triển khai một đoạn cho các con làm mẫu để mở trí huệ thêm. Bây giờ các con triển khai nữa.
Ví dụ, muốn được” Thầy là các con, các con là Thầy”, Đức Chí Tôn buộc chúng ta mỗi ngày phải cúng 4 thời là: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu mà không cúng vào những thời khác. Bởi Tý, Ngọ là chánh âm, chánh dương; còn Mẹo, Dậu là giao điểm của âm dương; mà âm dương hòa hiệp phát khởi càn khôn. Những giờ này là giờ anh linh hiển hách, cũng như ở thế gian trong những giờ làm việc mới có người làm việc.
Chúng ta mỗi ngày phải cúng 4 thời. Trước hết để xưng tụng công đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và công đức của Phật, Tiên, Thánh, Thần; kế đó là dâng tam bửu của chúng ta cho Đức Chí Tôn và sau cùng là đọc ngũ nguyện. Đặc biệt, dâng tam bửu là thi hành câu “Thầy là các con, các con là Thầy” đó vậy. Tới đây, nếu ai có căn cơ cao trọng thì đã hiểu, đã ngộ đạo, tức là thành Phật.
Thành Phật là khác, còn luyện tam bửu để đoạt pháp, đoạt đạo là khác. Như vậy, các con đừng nên sợ giáo lý Cao Đài eo hẹp mà nên sợ rằng các con không đủ khả năng diễn tả tột cùng giáo lý Cao Đài mà thôi. Nếu các con làm được như vậy, nghĩa là các con diễn tả tột cùng giáo lý Cao Đài thì các con sẽ là Thầy đó vậy. Bát Nương hi vọng sau những lần nhập Vạn Pháp cung hay Trí Huệ cung, các con sẽ có những người bạn hoặc chính các con có đủ khả năng làm được việc ấy.