Q.II · Bài 83–85 · Bính Dần
Ngày 24-11-1926 (âl. 19-10-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy “
Thiên lập Địa Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao những điều khổ hạnh, mấy lần lao lý,...”. Séance du 24 Novembre 1926 (19-10-Bính Dần) Thầy Các con, Các con, Thầy nghĩ lại việc hôm nọ tại Thánh Thất biến ra một trường tà quái, mà Thầy bắt đau lòng đó các con. Các con thiết nghĩ ra lẽ nào? Mỹ Ngọc: Bạch Thầy tại vài ông Thiên Phong làm chuyện lôi thôi nên mới có quỉ yêu xung nhập. – Phải, bởi cái lếu của chúng nó mà sanh việc ngày hôm nay.
Mỹ Ngọc: Bạch Thầy trong Môn Đệ có nhiều người ngã lòng. – Bất bình lắm hả? – Nhưng trong Thiên Phong có vài ông mà thôi. – Cũng có nhiều chớ sao con nói ít vậy con? Đó là bước Đạo, đó là Thiên cơ, các con hiểu sao được, nhưng Thầy buồn vì có nhiều đứa sàm biện về việc ấy. Thầy cũng muốn phạt chúng nó một cách nặng nề, nhưng Thầy nghĩ lại mà thương đó chút. Môn Đệ của Thầy đứa muốn bỏ Đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế.
Bởi bước Đạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đổi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quí, mê chữ vinh sang mà ngán. Các con hiểu Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi? Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn. Từ khai Thiên lập Địa Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao những điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày nuôi nấng các con hầu lập nên nền Đạo; cũng tưởng các con lấy đó mà làm đuốc soi mình đặng bỏ tà qui chánh.
Mấy lần vun đấp nền Đạo Thầy đều cũng bị bây mà hư giềng Đạo cả. Thầy buồn đó các con. Thầy ban ơn cho các con, Thầy thăng.
Ngày 25-11-1926 (âl. 20-10-Bính Dần): Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy “
công trình càng rỡ...”. Mercredi 25 Novembre 1926 (20-10-Bính Dần) Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Hỉ Chư Môn Đệ, Chư Ái Nữ, Chư Chúng Sanh, Các con nghe Thầy: Sự biến xảy ra đến nay đã trở thành một trường ngôn luận, có khi cũng náo nhiệt đến nền Đạo. Kẻ gọi tà, người nói chánh, nơi Thiên Thơ đã có dấu ràng ràng, các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích.
Kẻ hữu phần người vô phước, tin tin, không không cũng chẳng sửa cơ Trời đặng. Đường càng dài, bước càng nhọc thì nền Đạo càng cao, công trình càng rỡ. Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó đã nhiểm luyến đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước. Thầy cũng phải đau lòng mà nắm máy huyền vi để cơ Trời xây đổi, các con nên liệu lấy.
Nơi đây là Thánh Địa, Thầy đã chọn chánh chỗ Thánh Thất là đây mà thôi. Thơ! Con chẳng nên lo xa nữa nghe. Thầy giao sự sắp đặt hành tàng về mọi sự Thánh Thất cho Trung, Tương, Trang, Hóa, làm sao nơi đây cho đặng vững vàng khỏi điều trắc trở. Bốn con nên lưu ý, nhứt là Trang, con hiểu Thầy chăng con? Bốn con điều đình chung lo, có Thầy biết điều thiết yếu và sẽ làm cho các con đặng toại kỳ sở nguyện.
Trung! Nơi Đàn thứ hai tới đây, con nhớ cho các Thánh nội Sài Gòn và Chợ Lớn hay đặng đến hết cho Thầy dạy nghe. Thầy tưởng dùng máy đèn có khi làm cho mất sự tịnh trong lúc hành lễ mỗi Đàn, nhưng đã có rồi, con liệu tùy tiện mà làm sao cho êm tịnh. Trung! Cho Chư Nhu cầu Đạo thượng sớ. Ngô Trung Bình:
Nguồn Đạo tìm vào đã tận nơi, Rán đưa chơn tục chí đừng dời. Bao nhiêu lỗi trước tua kềm sửa, Căn mạng nên Ta phải để lời.
Thượng. Trương Quang Huê:
Lời ngay mích bụng dạ đừng nao, Mong mỏi đường theo cửa Đạo vào. Vào đặng thấy nguy đừng trở bước, Bước an chí ấy mới thanh cao.
Thượng. Nguyễn Hữu Trinh:
Thanh cao tập chí mắt xem thời, Đời thấy đã nhiều chán nữa thôi. Thôi rán lần đường dò bước trễ, Trễ lâu cũng tới chí đừng lơi.
Thượng. Nguyễn Văn Thành:
Chí đừng lơi mới đáng trượng phu, Mượn nhành dương rưới khỏa cơn sầu. Rừng chiều ác lặn con trăng lố, Chậm rãi đường về bước trở thu.
Thượng. Hà Văn Hành:
Thu về Đông vội trở màu sầu, Sầu thảm chờ qua lúc đớn đau. Đau bước đường xa hầu đến chốn, Chốn nao đạo hạnh tập tâm cầu.
Thượng. Nguyễn Văn Lục:
Tập tâm cầu Đạo chớ sơ sai, Chí ấy sau nhờ vận hội may. Tòng lảnh chim chiều con lạc cánh, Lần đường chớ nệ dặm đường dài.
Thượng. Huỳnh Văn Kiêu:
Đường dài vắng bước nỗi quanh co, Đường bước từ nơi rán chí dò. Dò đến hang Thần nghe hạc gáy, Gáy non Nam Việt có Trời lo.
Thượng. Nguyễn Văn Út:
Trời lo đâu nệ nhọc công trình, Nhọc sức vì thương đám chúng sanh. Sanh dưỡng, dưỡng sanh rồi phải độ, Độ cho trở bước lại đơn đình.
Thượng. Mai Văn Thành:
Đình bước vì chưng ngán bước đường, Đường mơi thơ thới cỏ phơi sương. Sương nồng nhánh liễu chim bay liệng, Luyện đặng trường sanh thoát thế thường.
Thượng..........
Thường ngày cay đắng phải âu lo, Độ dẫn nhằm nơi phải gắng dò. Trau tánh ôn hòa chừa cải trước, Dựa hơi rừng quế cũng thơm tho.
Thượng. Lý Thị Há:
Lý diệp chờ xuân nhánh trổ bông, Thị thành chen lấn lại rừng tòng. Há đem tấc nguyện làm công quả, Bước tục nhờ may bước khỏi vòng.
Thượng. Tô Quế Tươi:
Khỏi vòng mê tín lại đường ngay, Lạc nẻo mau chơn liệu trở quày. Đạo đức để lòng từ ấy giữ, Chủ trung đã gặp Đấng Cao Đài. Đài các chưa từng miếng ngọt ngon, Rán công hậu kiếp đặng vuông tròn. Tròn nền đạo đức nghèo là quí, Quí gặp hồng đem điểm bức son. Thầy thâu hết hai bên Nam và Nữ.
Trung, con gởi tin cho Khỏe ở Bạc Liêu rằng: Thầy đã chứng và khen lòng thiết thạch của nó. Nó bị sự cản trở chẳng đặng hầu Thầy mà thọ phong Thiên Ân. Nhưng cứ việc độ rỗi làm xong phận sự, Thầy sẽ gia phong. Thầy ban ơn cho các con.
Ngày 26-11-1926 (âl. 21-10-Bính Dần): Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo
Jeudi 26 Novembre 1926 (21-10-Bính Dần)
Thinh danh mãn thế đức tồn linh, Thanh trực nhứt triêu quán thế tình. Hữu phước độ nhơn chiêu vạn tánh, Cần lao thống hiệp hậu gia đình. Hoàng triều hiệp nghĩa nam Thiên vận, Phụ Hớn hưng suy vấn Khổng Minh. Nhựt nguyệt song quang thùy bạch chuyển, Hồn quân vị vãn đáo hầu thần. Con khá kiếm cao xa mà hiểu nghe, còn nội trợ con,
Thầy dạy:
Bạch truật tinh sao khả phục qui, Tứ quân tu trạch khảo trần bì. Thanh chi hữu hiệp tam phân phụ, Liên thạch cầu đa bất phạt tì.
Trong ấy có bài thuốc và kiếm nghĩa bài thi, nhớ lời căn dặn. Nguyễn Thị Quít: (Cẩm Giang, Triêm Hóa)
Nên nhà đã lập hiếm phương hay, Đường Đạo Thầy khuyên.... cúng tài. Mới thấy con chưa từng phải quấy, Khá chờ xem thử biết Thầy hay.
Thâu
Phạm Thị Hóa: (Long Thành, Tây Ninh)
Thầy hay thương mến lũ con hoang, Song chớ ỷ y phải ngỡ ngàng. Nếu biết tánh so đo đắn phận, Dầu nhiều cay đắng cũng thanh nhàn.
Thâu
Trần Thị Phụng:
Thanh nhàn nhờ hứng giọt Cam Lồ, Đâu bẵng vui riêng nết Lão Tô. Cực nhọc buồn vui đời đã chán, Thôi thôi tự toại niệm Nam Mô.
Thâu
Đoàn Thị Liên:
Nam Mô hai chữ dựa màu thiền, Đến nửa kiếp còn lắm lợi riêng. Gia nghiệp đã an con cái đủ, Khá tua cửa Phạm đến cầu duyên.
Thâu
Đặng Thị É:
Cầu duyên Phật khử oan gia, Trái chủ đừng khinh gánh đến già. Lựa chọn đã.... nơi đạo đức, Sau quên ngước mặt ngó đầu nhà.
Thâu
Đỗ Thị Diệu:
Đầu nhà có mắt ngó người hiền, Con vốn giòng lành Lão mới khuyên. Nếu muốn khử tiêu tai nạn đến, Thì nên khẩn nguyện sợ oai quyền.
Thâu
Nguyễn Thị Dự:
Oai quyền làm chủ Phật, Tiên, Thần, Chẳng vị song cầm vững nét cân. Hỏi kẻ còn ai hơn thế nữa, Thì toan đến khẩn độ phàm thân.
Thâu
Lê Thị Chi:
Phàm thân thương kẻ lắm lao đao, Bởi kiếp tiền khiên trả chớ sao. Thành dạ tu tầm Thầy sửa số, Đem qua biển khổ chẳng ba đào.
Thâu
Trương Văn Động:
Ba đào ngọn nước với nguồn sông, Như một cây trôi ở giữa dòng. Thấy vậy thương tình cho kẻ vớt, Đem về làm của với làm song. Thâu. Thầy sẽ trọng dụng, khá học Đạo.
Trang Văn Giáo:
Làm song ngăn đón lũ gian hùng, Mạnh yếu đánh thoi cũng gọi hùng. Quyết lập thân danh tua sửa lưỡi, Nói hiền kẻ dữ nịnh thành trung.
Thâu
Trịnh Văn Kỳ: Thầy phong con chức Giáo Hữu, nội một tuần con sắp đặt việc nhà cho an rồi đi phổ cáo trong tỉnh Tây Ninh, cho khắp hết các nơi nghe con. Thầy Các con, Thơ nó dâng sớ cầu... Cười... Thầy cũng thương đó chút. Thầy đã nói cái lòng thương Thầy hơn biếm trách, nên Thầy chẳng hề biếm trách các con, ngặt trước quyền của Thần, Thánh, Tiên, Phật, biết sao cứu rỗi cho đặng.
Thầy lại phải làm thinh cho kẻ mất lẽ công bình. Thơ nó tưởng Thầy giận mà nài xin tha thứ, Thầy thì đặng còn Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật mới nài sao; nhứt là Thái Bạch Kim Tinh rất khó, Chiêu cũng vì vậy mà mất ngôi.
Các con chớ dễ ngươi phạm thượng nghe à. Chư Nhu thượng sớ. M. Trung bạch Thầy về sự cốt Quan Thánh Đế Quân. – Không giống chi hết... Cười... làm cốt khác.
Ngô Văn Nhạc:
Thân hay gánh vác nỗi nhà nên, Chẳng chịu tìm ra kế vững bền. Lập đặng rồi sợ ra đến đổ, Nơi mình chẳng phải tội bề trên. Nghe à... Thâu.
Nguyễn Văn Tàu:
Bề trên thương dưới dắt dìu nhau, Ví lỗi muôn xe cũng nhục bào. Thêm sức tại nhà nay đã sẵn, Nhiều cây nên núi dạo nương rào.
Thâu
Nguyễn Văn Tám:
Nương rào tòng bá núp Trời đông, Trí đủ... chưa phải thiện lòng. Nên nghiệp đôi khi chưa tính trước, Năm tròn trở ngại có mùa Đông.
Thâu
Trg Văn Thành: (Cẩm Giang, Giai Hóa)
Đong đầy đức cả hóa kho vàng, Đừng thấy phận nghèo chiếp miệng than. Cái cửa Thiêng liêng chưa dễ đặng, Đỉnh chung thế sự trấu cùng than.
Thâu
Huỳnh Văn Ngay:
Than chưa ngún lửa cuộc đời qua, Nhưng bởi mến con hứa đặng nhà. Vợ dữ đưa lời đừng trả giọng, Khen hiền trước phải biết chê tà.
Thâu
Trần Văn Chí:
Chê tà trừ bạo lẽ như nhiên, Song lưỡi gươm chưa sánh dạ hiền. Đức mạnh ba ngàn thâu thế giái, Lòng thành làm khép mặt Thần Tiên.
Thâu