Q.II · Bài 94–95 · Bính Dần
Ngày 10-12-1926 (âl. 06-11-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo
Vendredi 10-12-1926 (06-11-Bính Dần) Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Nhu, chư Tín Nữ,
Đa tạ.... Đa tạ..... Cười. Như Nhãn gan lớn thiệt, Thánh ý Thầy. Thái Bạch - Hỉ Đạo Hữu, Tệ Đệ tề quới: đòi Đạo Hữu lên.
Thánh ý Thầy Lão chưa đem thố lộ, chẳng qua Thầy muốn để vậy mà xem sự hành Đạo của chư Đạo Hữu đó. Thơ, Thánh Thất đòi lại đặng cùng chăng là tại nơi Thơ và vợ Thơ, Thầy và Lão đợi xem. Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu biết rằng Thánh Thất nầy chư Đạo Hữu cũng có tổn phí, đợi kẻ gian manh làm thế nào mà đòi. Chư Đạo Hữu thế nào mà trả, trước mặt luật Trời chưa phải dễ sang đoạt nghe à....
Lão sẽ điều đình, Thầy sẽ dạy Lão làm thế nào cho chúng nó biết oai linh Thầy. Chỉnh Đàn. Trung bạch Ngài dạy về sự đám táng của Tương? Thây kệ kẻ vô dụng. Thầy Các con, Thầy buồn lắm, các con cái biết nhơn sanh lắm chịu đau đớn khổ não, Thầy muốn làm thế nào giảm bớt cái kiếp đày các con, lại còn quyết đóng cửa luân hồi cho tuyệt lối sanh sanh tử tử, nhưng mà trong hàng Môn Đệ có đứa phản Thầy.
Các con ôi, nếu Thầy bỏ các con thì các con sẽ thế nào. Thầy chẳng phải sợ chi cho Đạo, ngặt lòng thương yêu Thầy nó làm cho Thầy đau đớn, thấy tên tuổi nhiều đứa yêu dấu Thầy đã bị treo tại cửa Phong Đô đợi ngày hành xác. Thảm thay! Đau đớn thay!... Đại lụy! Các con giữ mình cho lắm nghe. Các con, chư Nhu cầu Đạo thượng sớ. Trung xin cho Cư đọc. Đặng.... Lý Thái Bạch không chịu.
Nhuần, con nghe, con đợi Thầy dạy dỗ chồng con đạo đức chút đỉnh. Nó có tâm hiền mà ngặt Đạo cũng chưa thông, chưa phải hồi lãnh mạng lịnh độ rỗi con cái Trung Huê của Thầy, con an lòng nghe. Huỳnh Thị Sanh:
Sanh đời nắng lửa với mưa dầu, Tội là đâu phước lại là đâu. Chiu chít như chim cơn khuất bóng, Mơi vui rồi tối chịu đeo sầu.
Thâu
Lâm Am Cung:
Trương cung chim đỡ thế nào đang, Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn. Quyền biến dầu mình khi buổi ngặt, Dằn lòng chớ tránh kế mưu gian.
Thâu
Sum vầy các sắc các con nhà, Dầu phải sang hèn cũng một cha. Nương dựa con tua vầy hiệp bạn, Đường đời cũng thế chẳng bao xa.
Thâu
Trung, nó là kẻ yêu Thầy, con khá dạy nó cách cầu
nguyện để thờ phượng Thầy. Xà inh con chớ ngại ngùng chi, Các việc con xin ý đặng tùy. Nền Đạo của Thầy nền Đạo cả, Con con đừng sợ thị hòa phi.
Thâu
Thầy cũng dặn Trung như vậy. Mi trừng nhãn kiến giữa không trung, Choán khắp Càn Khôn đã thấu lòng. Đặng dạ nhơn sanh chưa phải dễ, Đạo mầu khởi lập xuất nơi Đông.
Thâu
Nguyễn Văn Đủ:
Đủ mùi cay đắng chịu cùng đời, Đã thấy ra gì đó hỡi ngươi. Lần lựa chưa xong Nhơn đạo giữ, Mà nam đã chất thấu vênh Trời.
Thâu
Thuộc:
Thuộc lòng hai chữ ái nhơn xưa, Phải đức trái oan trả nợ thừa. Lữ Vọng bảy mươi còn sự nghiệp, Huống ngươi..... tuổi lợi danh chưa.
Thâu
Ní na sớm xóm với chiều làng, Đã khởi oan mà chẳng phải oan. Ngơ ngáo thế tình, ngơ ngáo phận, Bao chừ Thầy hỏi đặng vinh sang.
Thâu
Tái cầu cho hai đứa nhỏ nghỉ. Thầy Các con thượng sớ. Nguyễn Văn Cỏn:
Cỏn con sự nghiệp cũng bồng tang, Lợi lộc tí ti cũng nhận nhàn. Đức tám tội mươi như Lão lộ, Nhằm nơi phải chợ chẳng so hàng.
Thâu
Cho hay nhơn định chẳng qua Trời, Non đảnh đưa xuồng gặp khó bơi. Chi bẳng tùy theo Thiên ý định, Cũng như buồm thuận gió đưa hơi.
Thâu
Hoài:
Hoài cố tư nhân tánh Đạo tâm, Nhơn nhơn dĩ định thánh Thiên tâm. T u thân bất viễn sanh môn nhập, Thạnh khí cường chơn hạnh ngộ thần.
Võ Văn Chánh:
Chánh khí bất năng nạp chánh tà, Nhơn sanh tại thế thị như ma. Thiên môn hữu thỉnh vô nhân đáo, Địa ngục vô ngôn hữu khách hòa.
Thâu
Điều:
Điều đình gia thất vẹn nhơn luân, Cái nẻo Thiền môn giống đám rừng. Trước muốn bước vào coi nhắm hướng, Kẻo lầm đường rậm ngỡ ngàng chân.
Thâu
Bính:
Bính ngọc Tương Như mấy được dành, Chưa ra giá đáng xót oai danh. Buông cương đẩy núi xưa Hạng Võ, Một kiếp chưa rồi hết lối tranh.
Thâu
Dần:
Dần dà những hẹn với căn tu, Đau mắt không lo để đợi mù. Một bước qua ngày trăm bước trễ, Một lời chẳng khéo mấy năm tù.
Thâu
Mười:
Mười voi chưa đủ gọi mình sang, Huống ỷ khôn lanh cứ hiếp làng. Tâm địa của Trời đời ắt biết, Phải toan sợ tội cải tà gian.
Thâu
Khánh:
Khánh chuông tiếng khởi giục nhơn sanh, Bỏ ác mà đi đến nẻo lành. Kiếp phước phải ngừa lo kiếp phạt, Hễ là có thưởng phạt theo mình.
Thâu
Triệu:
Triệu thành vị vọng phước tinh suy, Phấn khí đắc tâm đắc thế thì. Hậu vận vinh huê thiên lý mộng, Bất như nhàn lạc tụng A Di.
Thâu
Đoàn Văn...:
Thảo căn mộc bổn thạnh tương cầu, Ngự hám công khanh nhứt thế ưu. Sanh tịch han tri căn số tác, Hà do thế sự độ cao mưu.
Thâu
Đặng:
Đặng vàng mà bỏ kiếm đồng thau, Sự nghiệp vì đây cũng để vào. Trí não không cơn vui đạo đức, Đức không đủ đặng có nên giàu.
Thâu
Lê Văn Hát:
Hát lường chèo chống cũng đưa bơi, Cầu Phật cầu Tiên cũng đợi mời. Thiệt dạ Ta khuyên về ít bữa, Vái van thưa tội với Ông Trời.
Thâu
Sĩ tử nhà văn cũng tiếng rằng, Chẳng gìn nết hạnh khách Nho văn, Đem câu nhơn nghĩa khoe ngoài miệng, Xảo trá hung hăng ít kẻ bằng.
Thâu
Huỳnh Thị Hảo:
Hảo tai một gái nữ anh tài, Mới biết mà tâm Đạo quá hay. Khá bắt chước nhuần lo độ chúng, Dầu nên thành Phật cũng Bồng Lai.
Thâu
Huỳnh Thị Tức:
Tức y tức thực khỏi lo chi, T u tánh tu tâm khá kịp thì. Nương phướn Tây Thiên về cảnh tịnh, Bỏ nơi phiền não chịu ai bi.
Thâu
Lê Thị Tùy:
Tùy duyên tùy phận đãi cùng đời, Đừng rán tranh giành phải mỏn hơi. Nước vốn đầy sông tùy kẻ xách, Lộc kia đầy đất tại người dời.
Thâu
Nguyễn Thị Lươm:
Lươm lo hai chữ phước nơi nhà, Chẳng biết tu lại đến hỏi ta. Mượn chước cầu nghe đôi việc muốn, Rồi ra cũng giữ một lòng tà.
Thâu
Ngô Thị Hiền:
Hiền lương tánh đức vốn thiên nhiên, Mảng tưởng chồng con phải chịu hiền. Thầy dặn đừng lo điều quá trí, Đời Đời Đạo Đạo mới là nên.
Thâu
Bùi Văn Nhầm:
Nhành vàng tuy chẳng đượm sân Ngô, Cái miệng trung trinh giống Đổng Hồ. Chánh trực vô tư thiên hạ ghét, Thường xem khách trọng giống chàng Tô.
Thâu
Nguyễn Văn Nở:
Nỡ đem chén ngọc đựng màu chàm, Chẳng biết phận mình thế cuộc ham. Thương kẻ dò đường không gặp tiếp, Của không gìn trọn bụng hằng tham.
Thâu
Lượng trên đã mở đức nhiêu dung, T u tánh từ đây Đạo khá tùng. Trước dại sau thôi đừng dại nữa, Kẻo không thoát khỏi cửa Diêm Cung.
Thâu
Nguyễn Thị...:
Thấm duyên con trước giống nên hiền, Phải kiếp trần gian phải kiếp Tiên. Còn sống một ngày lo đạo đức, Chi chi con khẩn toại như nguyền.
Thâu
Nguyễn Thị...:
Tường đông bóng nguyệt xế đầu nhành, Con đã kiêng dè sợ Đấng sanh. Mượn kiếp đào hoa răn kiếp trước, Không tu Thầy dặn khó thi hành.
Ngày 11-12-1926 (âl. 07-11-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy lễ an táng Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh
Samedi 11 Décembre 1926 (07-11-Bính Dần). Thầy Các con, Diêu đợi nghe. Trung, Lịch, hai con phải dụng Đại Lễ mà an táng Tương nghe. Thầy ngặt một lẽ chẳng thế nào đem Tương vào “Tam Thập Lục Thiên” phải để nó đợi nơi “Đông Đại Bộ Châu” mà chờ Tòa Tam Giáo phát đạt. Thầy có để lời cho Thái Bạch Kim Tinh cầu rỗi. Nhưng Người giận Tương không công quả, dâng bộ công Thiên Thơ ra trống trải lắm, tại nơi Tòa mới cải chối nỗi gì.
Người nhứt định không dự đến. Các con nghe à. Vậy trong Hịch Văn Sớ Tấu, các con phải thượng nơi Tòa Tam Giáo mà cầu rỗi cho nó thiệt hết lòng, rồi Thầy sẽ rỗi cho nó. Các con hiểu. Lịch bạch Thầy về sự Đại Lễ..... Không con... Đại Lễ là làm theo một lễ với sự an táng bậc Thái Lão nghe. Trung, Lịch đứng tên. Diêu, con chưa đặng định Thần khi Thầy giáng há! Những lời Thầy dạy con phải sắp đặt phần Nhơn đạo rồi sẽ lấy hồn xác con mà dùng về việc Đạo, nghĩa là: Con phải tính cho xong phận sự làm người rồi lo hành Đạo
mà thôi. Con hiểu à. Thầy còn dạy con nhiều nữa Diêu. Trung, Lịch, lễ ấy phải khởi đầu giờ Tý nghe. Thầy ban ơn cho các con.