Q.II · Bài 210–211

Đức Quyền Giáo Tông giải nghĩa về: Đức Chí Thành & Lòng Bác Ái & Người trong Đạo phải đối đãi với nhau như thế nào? (1935)

ĐỨC Quyền Giáo Tông Giải Nghĩa VỀ “ĐỨC Chí Thành” ĐỨC CHÍ THÀNH Đức chí thành là tánh chất thành thật chơn chánh mà mọi người cần phải có hầu để đối đãi nhau cho ngay thẳng, thật thà trong đường Đời hay là đường Đạo. Đức chí thành là gốc năm thường, là nguồn trăm nết. Có chí thành thì đạo hạnh con người mới đặng rõ ràng sáng tỏ. Không chí thành thì đạo hạnh phải bị tà khuất tối tăm.

Cho nên con người ở đời mà không un đúc đặng một khối chí thành là gốc rễ thì trông chi đến việc trau giồi đức hạnh là nhành lá vậy. Đức chí thành tỉ như một khối vàng, dùng nó mà chế tạo ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá. Chí khối vàng ấy phải pha phải trộn thì mất nguyên chất tự nhiên, rồi bảo sao những đồ trang sức làm ra không phải xấu hèn thấp giá. Người xưa tuy quê hèn, song giữ đặng hai chữ chí thành, đối với nhau chẳng hề dối giả, gạt gẫm là gì.

Một tiếng ừ với nhau cầm đáng ngàn vàng, một lời hứa với nhau khư khư giữ chặt. Người nay tuy gọi văn minh tấn bộ; song cái ánh sáng văn minh chóa ra làm cho con người dường như bị nắng quáng đèn lòa mà xem không rõ cái tướng của đức chí thành đặng vậy. Cũng bởi không chí thành cho nên ở đời mới có người nầy xảo trá, kẻ kia gian tham, sanh lòng nghi kỵ lẫn nhau đến đổi trong một việc làm nhỏ mọn mà có nhiều kẻ chung lo thì cũng hóa ra hư hỏng.

Theo đường đời mà đức chí thành còn quan trọng là thế, huống chi đường Đạo là chỗ cần phải treo lên một tấm gương thanh bạch hầu để soi chung thiên hạ. Người hành đạo cần phải có đức chí thành, tôn chỉ Đạo mới đặng quang minh chánh đại, rồi nhơn đó mới đặng lòng tín nhiệm của chúng sanh. Khi tụng kinh cầu nguyện, khẩn vái với Trời Phật, nếu đặng chí thành mới có cảm. Có cảm mới có ứng.

Có ứng mới có nghiệm; cho nên có câu: “Hữu thành tất hữu Thần” là vậy đó. Người làm Đạo mà chí thành thì chẳng hề để ý chi riêng về việc công quả mà cầu danh, chẳng hề tính lập công quả mà cầu danh. Chẳng hề ỷ mình lập nhiều công quả mà tự kiêu, tự đắc rồi tác oai tác phước, lập thế chuyên quyền, gây ra lắm điều trái Đạo, ai nói cũng nghe, ai khuyên cũng không nạp, ai trách cũng không dung.

Người làm Đạo mà chí thành thì chỉ lo cho chúng sanh, chớ không kể đến thân mình, tự buộc mình vào nơi khổ hạnh, đem cả hình hài trí thức làm món hy sinh cho tôn chỉ Đạo, thân còn chẳng kể huống lựa lợi và danh. Nói tắt lại một điều là làm Đạo mà còn chút ý riêng về lợi và danh thì chưa có thiệt là chí thành vậy. Người theo Đạo mà không chí thành thì bất quá là: Cầu vui tu bắt chước hoặc là tu “cầu mị” theo ông nọ bà kia đặng có dễ bề thân cận mà chác chuộng mua yêu cùng trông ỷ lại nơi người vậy thôi.

Người theo Đạo mà không chí thành thì bất quá là mượn danh Đạo để vụ tất đồng tiền, hoặc bị lợi dụng đức tin của hàng Tín Đồ thấp thỏi để mưu điều trái Đạo. Người giữ Đạo mà không chí thành, dầu cho bác lãm quần thơ, rõ thông đạo lý đến đâu đi nữa tưởng cũng không trông thành Đạo. Ấy vậy, nếu rủi trong Đạo mà có đại đa số người không chí thành dầu cho tôn chỉ Đạo cao thượng đến đâu đi nữa, nền Đạo bất quá cũng để một trò cười cho thiên hạ.

Thánh ngôn Đức Chí Tôn dạy rằng: “ … … Các con phải biết Đạo gốc bởi lòng bác ái và chí thành. Bác ái là lòng đại từ bi thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông mà coi thiên hạ trọng bằng Trời Đất. Còn chí thành là mỗi việc đều lấy lòng thành thật mà đối đãi trong Đời và trong Đạo. Dầu kẻ phú quí bực nào đi nữa mà không có lòng bác ái và chí thành thì không làm chi nên việc.

Vậy nên Thầy khuyên các con trước hết phải ở sao cho ra vẻ đạo đức, đừng để ý gì việc công quả mà nêu danh nơi cõi tạm nầy. Các con phải mở rộng tâm chí ra mà hành Đạo mới nên cho, chớ đừng mờ hồ rằng Đạo thành thì mình được làm một vị xứng đáng và đại ích trong Đạo”. Tóm lại, đức chí thành là gốc của nền Đạo, tức là tánh mạng của Đạo vậy, cho nên trong bài Kinh Niệm Hương mở đầu có câu: “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”.

Đức chí thành không cần tập luyện mới có chỉ tại nơi tâm muốn cùng không muốn mà thôi. LÒNG BÁC ÁI Trên mặt địa cầu nầy, nhơn loại phần nhiều cũng bởi cái lòng vị kỷ mà gây ra lắm điều bạo ngược. Kẻ tham trộm là bởi quí trọng của mình mà không quí trọng của thiên hạ, vì vậy nên tính lấy của người đặng bổ thêm của mình. Yếu sức thì gạt lường trộm cắp, mạnh thế lại ép đè cướp giựt, có khi còn hại đến mạng người. Ăn thịt một con sanh vật là lấy huyết nhục nó để bồi bổ cho huyết nhục mình tức là quí trọng sanh mạng mình mà không quí trọng sanh mạng nó vậy.

Như hai đàng chiến đấu, bên nào cũng đem hết sức lực để tiêu diệt bên kia, thì đàng nào cũng quí trọng mạng mình mà không quí trọng sanh mạng bên nghịch. Cái lòng vị kỷ gia hại cho nhơn quần xã hội là thế. Nay muốn tảo trừ cái điều hại ấy, cần nhứt phải làm thế nào cho thiên hạ ai ai cũng có cái lòng bác ái. Bác ái là gì? Bác là rộng, ái là thương. Lòng bác ái tức là lòng thương rộng ra.

Ta chẳng những thương ông bà, cha mẹ, vợ con cùng là thân tộc họ hàng, mà ta còn phải thương rộng ra cho đến cả nhơn loại chẳng luận nước nào. Ta chẳng những thương cả nhơn loại, mà ta còn phải thương rộng ra cho tới cả loài sanh vật khác nữa. Tiếp theo bài Đức Chí Thành (1935) NGƯỜI TRONG ĐẠO PHẢI ĐỐI ĐÃI VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO? Ở đời người ta cần phải giao tiếp với nhau. Đối với chư Đạo Hữu sự giao tiếp ta lại có cái tình kiên lạc chí thành, cái nghĩa tương thân chí thiết.

Giao tiếp mà chi? Là để dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau trong đường Đạo và đường Đời. Anh lớn chỉ biểu cho em nhỏ, người rõ Đạo bày vẽ cho kẻ chưa thông. Người nầy lầm lỗi kẻ kia chỉ dùm, dưới vui tuân lời trên dạy, trên không hổ cho dưới bày, lấy lễ hòa nhau, trên khuyên dưới kỉnh vui vẻ chung nhau, buồn thảm sớt nhau, giao lưng đâu cật mà bồi đắp mối Đạo Trời cho rõ là con một cha, chung thờ một chủ nghĩa.

Đấng Chí Tôn có giáng cơ dạy như vầy:

“Chẳng quản đồng tông mới một nhà, Cùng nhau một Đạo tức một cha. Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi, Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa”.

Trong đường giao thiệp ta cần phải lấy hết tấm lòng bác ái, đem hết dạ chí thành mà đối đãi nhau thì Đạo tâm ta mới biểu lộ ra tới gương chơn chánh. Đồng Đạo mà chẳng biết thương nhau, chẳng vảng lai thù tạc với nhau, cứ nhà ai nấy ở, ai khôn dại mặc ai, ai hoạn nạn thây ai, bo bo cứ giữ câu “Độc thiện kỳ thân” thì trái hẳn với chủ nghĩa Đại Đồng của Đạo Trời lắm đó. 1. Tín Đồ: Đứng vào hàng Tín Đồ cần phải kính tuân chư Chức Sắc Thiên Phong, vì chư Thiên Phong là người đã thọ lãnh nơi Thượng Đế một cái Thiên chức đặc biệt để thông truyền Chánh Giáo.

Người vẫn có cái quyền sai khiến chư Tín Đồ về việc phải trong Đạo. Dầu bậc Thiên Phong mà tài sơ tuổi nhỏ hơn mình đi nữa, hàng Tín Đồ cũng chẳng nên hổ mình tùng sự, hoặc là vượt bực khinh khi ganh gổ tức là buộc vào mình một cái tội vi lịnh cùng Thượng Đế vậy. Vả lại, Chức Sắc Thiên Phong chỉ có cái giới hạn trong khi hành sự mà thôi, ngoài ra toàn là người đồng Đạo với nhau, tức là Đạo Hữu với nhau vậy. 2.

Chức Sắc: Đối với hàng Tín Đồ, chư Chức Sắc Thiên Phong cần phải có cái hạnh khiêm cung từ nhượng, phải dùng lời dịu ngọt mà dạy dỗ kẻ dưới quyền mình, phải lấy nét ôn hòa mà điều độ nhau. Phải chỗ khiến thì khiến, không phải chỗ sai chớ nên sai. Đừng làm điều chi quá phận sự mà ra lẽ chuyên quyền. Chẳng nên tự cao, tự phụ mình may nhờ tiền căn cựu phẩm, hoặc là công cả quả dày, nên mới được chức Thiên Phong, biết đâu trong hàng Tín Đồ lại không có lắm người tài cao đức trọng hơn mình.

Chư Chức Sắc và chư Tín Đồ mà đối đãi nhau cho có thái độ ôn hòa, thỏa thuận, thì trên không chinh, dưới không mích, ấy là một lễ hiến cho Đấng Chí Tôn rất long trọng đó vậy. THƯỢNG TRUNG NHỰT Phụ ghi: Đoạn 6:...ai nói cũng nghe, ai khuyên cũng không nạp, ai trách cũng không dung... chúng tôi nghĩ là:...ai nói cũng không nghe, ai khuyên cũng không nạp, ai trách cũng không dung.

Đoạn NGƯỜI TRONG ĐẠO PHẢI ĐỐI ĐÃI VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO? Được trích từ quyển PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐẠO của Đức Quyền Giáo Tông biên soạn năm Mậu Thìn (1928).

LỜI TRẦN TÌNH

Kính thưa Quý Chức Sắc, Chức Việc và Chư Đồng Đạo, Nghĩ vì nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được thành lập do huyền cơ diệu bút của Đấng Chí Tôn cùng Chư Thiêng Liêng đã dày công giáng Đàn chỉ dạy. Do đó, những Thánh giáo do Ơn Trên ban cho vào buổi sơ khai chứa đựng phần lớn Chơn Truyền của Đại Đạo. Ngay từ những năm đầu khai Đạo, Hội Thánh đã tuyển chọn các bài Thánh Giáo để in thành sách, đó là bộ Thánh Ngôn Hiệp T uyển.

Nên chúng ta có thể nói Thánh Ngôn Hiệp T uyển là bộ Thánh Kinh của Cao Đài đó vậy. Ngoài ra, những bài Thánh Giáo còn lại cũng không kém phần quan trọng mà Bà Đầu Sư Hương Hiếu đã có công lưu giữ và sau nầy cho in thành hai quyển Đạo Sử. Bà lại là một chứng nhân của sự kiện Khai Đạo từ đầu đến cuối, nên những lời dẫn giải của Bà tuy ngắn gọn nhưng nó có một giá trị lịch sử vô cùng trọng đại.

Đa số các nhà viết sử Đạo sau nầy đều có tham khảo hai quyển Đạơ Sử do Bà soạn thảo. Nhưng quyển Đạo Sử nầy được ấn hành lần đầu tiên dưới hình thức quay ronéo trên giấy vàng nên dễ bị hư rách. Vì vậy nay Thánh Thất Tộc Đạo Westminster chúng tôi chung góp công sức quý Đồng Đạo để in lại quyển Đạo Sử nầy nhằm góp phần trong muôn một để bảo tồn lời vàng tiếng ngọc của Ơn Trên cũng như gìn giữ một tài liệu Đạo Sử quý báu cho hậu tấn.

Trong việc đánh máy và trình bày lại quyển Đạo Sử nầy, căn cứ theo bản quay ronéo, chúng tôi gặp phải một số khó khăn như là: • Phải sửa chữa lại một số lỗi chánh tả của lần in trước. • Có vài bài Thánh giáo đã được in trong Thánh Ngôn Hiệp T uyển, nhưng trong quyển Đạo Sử lại có vài chữ hơi khác, làm không rõ nghĩa. Gặp trường hợp như vậy, chúng tôi phải căn cứ vào Thánh Ngôn Hiệp T uyển.

T uy nhiên, chúng tôi thấy vẫn còn vài khiếm khuyết về một số từ ngữ không được rõ nghĩa cho lắm. Có thể do sự tam sao thất bổn nên nhiều khi làm sai lạc đi ý nghĩa lời Thánh Giáo hay chăng? Vì vậy, chúng tôi khần thiết thỉnh cầu Hội Thánh sau ngày được phục quyền sẽ cho hiệu đính lại quyển Đạo Sử nầy một lần chót để những lần in tới được hoàn hảo hơn. Kính bút TM. nhóm thực hiện HT.

MAI V ĂN TÌM