Phương Luyện Kỷ — Phần Chánh
Đấng Tạo-Hóa hóa sanh muôn vật, Đấng ấy là Đấng Chí-Linh tức là Trời. Đấng Chí-Linh sinh ra Vạn-Linh, do đó mới có muôn loài vạn-vật từ vật-chất, thảo-mộc, thú-cầm đến loài người là phẩm đứng đầu khôn ngoan hơn vạn-vật. Thế nên, người và vạn-vật là bạn đồng-sanh, cùng chung một nguồn cội, con chung của hai Đấng Tạo-Đoan, một Ông Cha và một Bà Mẹ Thiêng-Liêng là Đức Chí- Tôn và Đức Phật-Mẫu.
Như vậy thì dầu cho cỏ cây, sắt đá đến chí thú-cầm và loài người, thảy thảy đều thọ tánh linh của Tạo-Hóa, nhưng sở dĩ phải phân ra cấp bậc sang hèn, hình-thức khác nhau là vì người đi trước kẽ đi sau trong trường thi tấn-hóa của cơ luân chuyển. Là bạn đồng-sanh, chẳng những chúng ta phải biết bảo trọng mạng sống cho nhau trong tình nhơn-loại, mà chúng ta phải quí trọng mạng sống của muôn loài với tình thương vô tận cho hạp tánh đức háo-sanh của Tạo-Hóa để dìu đỡ nhau trên bước đường tấn-hóa hầu đi tột phẩm tới Đấng Chí-Linh.
Xin trích lời Thuyết Đạo của Đức Hộ-Pháp ngày 29 tháng 7 Canh-Dần (1950): “Con người cũng một phần trong vạn-vật. Đức Chí-Tôn định cho loài người làm chúa của vạn-vật là tại sao? – Bỡi con người có tánh linh hơn vạn-vật là biết thương yêu bảo tồn chúng nó, ví như mình thương yêu con gà, con chó mình mới nuôi để cho nó sanh hóa ra nhiều. Hoặc mình thương cái cây, cái trái mới gieo trồng nó, vô phân tưới nước cho phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba đại-đạo được sung mãn nảy nở thêm ra, mới xứng đáng làm chúa của vạn-vật”.
Tóm lại, tất cả muôn loài, cầm-thú, côn-trùng, thảo- mộc, v.v… cũng như loài người, vốn là bạn đồng-sanh cùng một nguồn-gốc nơi Đấng Chí-Linh. Chúng ta phải biết thân-thích, tức là gần-gủi thương yêu hơn là bạc-đãi sát hại một cách vô tâm mà trái với đức háo-sanh của Thượng-Đế.
PHẢI ÂN HẬU VÀ KHOAN HỒNG
Ân là ơn, Hậu là dày-dặn. Ân-hậu là thi ân nhiều, làm ơn không biết chán. Người ân-hậu là người có ân đức rộng lớn, ăn ở có thỉ có chung, trước cũng như sau không thay dạ đổi lòng. Dầu gặp cảnh giàu hay nghèo, đối xử với người vẫn giữ một mực, biết trọng nghĩa khinh tài, thi ân bất cầu báo, lưu nhơn tình cùng tất cả mọi người không bao giờ phai lợt. Khoan-hồng là lòng rộng lượng, quảng đại, không cố chấp.
Lấy tánh khoáng đạt rộng- rãi đối xử với người, không nhỏ nhen, hẹp hòi. Ân-hậu và khoan-hồng là hai đức tánh liên quan với nhau nên đã được ghép chung thành một danh-từ khoan- hậu, là tấm lòng rộng-rãi, đức-độ dày-dặn. Một sự tích về lòng khoan-hậu:
BÀO-THÚC-NHA VÀ QUẢN-TRỌNG
Bào- Thúc-Nha chết, Quản- Trọng thương tiếc, khóc rất thảm-thiết, nước mắt ướt dầm cả vạt áo. phải thanh nhàn, đừng vị-kỷ Có người hỏi: – Ông với Bào- Thúc không phải là họ hàng thân-thích gì, mà sao ông khóc quá như vậy? Quản- Trọng nói: – Ngươi không rõ, để ta nói cho mà nghe. Ta lúc nhỏ khốn-khổ, thường buôn bán chung với Bào- Thúc. Lúc chia lời bao giờ ta cũng lấy phần hơn mà Bào- Thúc không cho ta là tham, biết ta gặp cảnh quẩn bách bất đắc dĩ phải lấy như thế.
Ta ở chợ búa thường bị lắm kẽ dọa nạt, Bào- Thúc không cho ta là nhác, biết ta có bụng bao dung. Ta bàn việc với Bào- Thúc nhiều khi việc hư hỏng, Bào- Thúc không cho ta là ngu, biết lúc may lúc rủi cho nên công việc có thành có bại. Ta ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi, Bào- Thúc không cho là bất lực, biết ta chưa gặp thời. Ta ra trận ba lần đánh thua cả ba, Bào- Thúc không cho ta là bất tài, biết ta còn mẹ già để phụng-dưỡng.
Ta nhẫn-nhục thờ vua Hoàn-Công, Bào- Thúc không cho ta là vô sĩ, biết ta có chí làm ích-lợi cho cả thiên-hạ. Sanh ra ta là cha mẹ, biết ta là Bào- Thúc, ta thương khóc thế nầy đã thấm vào đâu! (Rút trong Cổ-Học Tinh-Hoa) Trên đời, Bá-Nha và Tử-Kỳ được người ta gọi là bạn tri-âm. Còn Bào- Thúc-Nha và Quản- Trọng người ta gọi là bạn tri-kỷ. Bào- Thúc-Nha chẳng những là bạn tri-kỷ, còn có thể gọi là người khoan-hậu đối với Quản- Trọng.
PHẢI THANH NHÀN, ĐỪNG VỊ-KỶ
Phải thanh nhàn: Chúng ta phải để tâm hồn được thảnh-thơi, không nên quá ràng buộc mình vào vòng phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba đại-đạo danh-lợi, phải lao tâm nhọc trí. Chúng ta sống trong cảnh phồn-hoa vật-chất, thường chịu ảnh-hưởng của ngoại cảnh thế tình, tâm trí không bao giờ được yên tĩnh do lục-dục thất-tình khuấy động. Cho nên muốn được thanh-nhàn cần gột bỏ Tham, Sân, Si là nguồn-gốc đưa con người đến chỗ ham, mê, thù, giận.
Một khi trói buộc vào các tánh ấy thì tâm hồn chúng ta lúc nào cũng bận rộn, không thảnh-thơi. Vì thế, cần hạn chế những sự ham muốn thái quá thì lòng được cởi mở, thơ-thới ung-dung. Người thanh-nhàn lúc nào cũng biết an phận thủ thường, không đứng núi nầy trông núi nọ. Biết “thích kỷ tự an” hoặc “tùng ngộ nhi an” nghĩa là biết an vui với số phận mà “ lạc tại kỳ trung”.
MỘT SỰ TÍCH “THÍCH KỶ TỰ AN”
Đức Khổng- Tử đi chơi núi Thái-Sơn, gặp ông Vinh- Khải-Kỳ ngao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu, thắc lưng dây, tay khải đàn cầm, vừa đi vừa hát. Đức Khổng- Tử hỏi: “Tiên-sinh làm thế nào mà thường vui-vẻ thế?” Ông Vinh-Khải-Kỳ nói: “ Trời sinh muôn vật, loài người quí nhất, mà ta được làm người, đó là một điều đáng vui. Trong loài người, đàn ông quí hơn đàn bà, mà ta được làm đàn ông, đó là hai điều đáng vui.
Người ta sanh ra, có người đui què, có người non yểu, mà ta khỏe mạnh nay đã chín mươi tuổi, là ba điều đáng vui… Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là sự hết của đời người. Ta nay ở phận thủ thường đợi lúc chết thì có gì là lo buồn”. đừng vị-kỷ Đức Khổng- Tử nói: “Phải lắm! Thế là Tiên-Sinh biết cách tự làm cho khoan-khoái mà hưởng sự vui thú ở đời”. Cái vui sướng không ở đâu xa, mà ở ngay trong mình.
Không ở sự giàu sang, mà ở trong tâm yên vui. Hễ biết sung-sướng thì được sung-sướng. Những bậc Thánh-Nhơn biết “tri túc” nghĩa là biết “đủ với mình” hay nói cách khác là “ không thấy mình túng thiếu hay bị ràng buộc bỡi điều chi cả ” thì mới được an-nhàn tự-toại. Nhà Hiền- Triết Hy-Lạp Epicure có câu: “Se suffire à soi même c’est posséder le plus précieux des biens: la Liberté”.
Nghĩa là: Tự-túc là có được một thứ của quí nhứt trên đời: Sự tự-do. Như vậy, thanh nhàn là “Tự-do của tâm-hồn”.
ĐỪNG VỊ-KỶ
Kỷ là Ta, là Bản-ngã (le Moi). Vị-kỷ là chỉ biết có Ta, vì Ta, người như thế hoàn- toàn ích-kỷ (Égoiste). Phản nghĩa với «vị-kỷ» là «vị-tha» hay là «vô ngã» (la négation de soi), nghĩa là không có Ta. Vì chỉ biết ích-lợi riêng cho mình nên không kể đến người. Vì quá bảo-thủ cho bản thân mà quên mất sự sống còn của người khác. Do đó, tấm lòng từ-thiện không nảy- nở được để tế khổn phò nguy, giúp kẽ yếu cô hoạn nạn.
Nếu mỗi cá nhân giữ tánh ích-kỷ đó thì đời sống mặc ai nấy lo, chỉ biết sống riêng không biết sống chung, không phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba đại-đạo còn sự liên quan mật thiết giữa loài người trong xã hội, do đó nảy sanh sự ganh đua, giành giựt, mầm chiến-tranh mới manh-nha xuất phát. Người tu hành xã thân vì Đạo nên xem thường bản- ngả; không vị kỷ để lo sự lợi ích cho chúng sanh.
Trong bài “Chuyển pháp luân” Phật dạy rằng: Phải trừ tuyệt dục- vọng và tánh ích kỷ để xã thân giúp đời, đó mới thật là vô ngã. Vô ngã cũng có nghĩa là diệt cái tánh chia rẽ, đừng coi mình khác với người. Trong Tứ-Đại Điều-Qui có câu: “Quên mình mà làm nên cho người, Giúp người nên Đạo, Đừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền. ”
PHẢI BÌNH TĨNH, NGHĨA LÀ ĐỪNG CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA
HỌA PHƯỚC BUỒN VUI ( tập tánh không đừng nhiểm, vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc buồn vui thấm vào chơn tánh) Bình-tĩnh là bí-quyết của thành công, cũng là một đức-tính cần thiết cho người tu hành nói riêng, cho tất cả mọi người nói chung. Dầu ai dèm pha chê trách mình điều gì cũng đừng nên vội giận. Nghe thấy ai khen điều gì cũng chưa nên vội mừng. Không quá vui vì được phước, mà cũng đừng quá buồn khi gặp tai họa.
Con người có lương-tri, lương-năng tức là có cảm- giác, nên khi gặp vui cũng vui, gặp buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc buồn vui ăn sâu vào tâm tánh, làm mất sự phải độ lượng, khoan-dung và tha-thứ bình tĩnh tự nhiên thành ra tâm ý xao động, không còn đủ sáng-suốt để nhận định mọi việc. Có bình tĩnh mới giữ được tánh không không, lục- dục thất-tình không chi phối mình được, linh tâm mới mẫn huệ cách-vật, trí-tri.
(Trường hợp Đức Khổng-Tử bị tuyệt lương ở Trần, Thái – Ngài vẫn vui-vẻ khải đờn. Tôn-Trung-Sơn ở Luân- Đôn nhận được điện-tín mời về nước để nhận chức Tổng- Thống lâm thời, Tiên-Sinh vẫn thản nhiên như không có việc đó).
PHẢI ĐỘ LƯỢNG, KHOAN-DUNG VÀ THA-THỨ
Độ-lượng là đo lường, xử sự có chừng mực, không thái quá, không bất cập. Phàm muốn giải-quyết một vấn-đề gì hay làm một điều gì cần cân nhắc kỹ-lưỡng. Phê phán người lầm lỗi phải nắm vững tình lý, hoàn cảnh, thời gian, xét trước xem sau để nhận-định cho công-minh. Người độ-lượng làm việc gì cũng đắn-đo, nói ra lời gì cũng suy nghĩ trước, không vui đâu chúc đó, không thương ai nên tốt, ghét ai nên xấu.
“Thương ai thương cả lối đi, Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”. Vua nước Vệ, buổi trước rất yêu Di- Tử-Hà. Luật-pháp nước Vệ, ai đi trộm xe của vua thì phải tội chặt chân. Mẹ Di- Tử-Hà đau nặng, đêm khuya có người đến gọi, Di- Tử- Hà vội-vàng lấy xe vua ra đi, vua nghe thấy khen rằng: phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba đại-đạo – “Có hiếu thật! Vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân.” Lại một hôm, Di- Tử-Hà theo vua đi chơi ở ngoài vườn, đang ăn quả đào thấy ngọt, còn một nửa cho vua ăn.
Vua nói: “Yêu ta thật, của đang ngon miệng mà biết để nhường ta.” Về sau, vua không có lòng yêu Di- Tử-Hà như trước nữa. Một hôm, Di- Tử-Hà phạm lỗi, vua giận nói rằng: “Di-Tử-Hà trước dám tự tiện lấy xe của ta đi. Lại một bận dám cho ta ăn quả đào thừa, thật đáng tội với ta đã lâu ngày”. Nói xong bắt đem ra trị tội. Ôi! Di- Tử-Hà ăn ở với vua trước sau cũng vậy, thế mà trước vua khen, sau vua bắt tội là chỉ tại khi yêu khi ghét khác nhau mà thôi.
Cho nên: Thương nhau cau bảy bổ ba, Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười. Người có độ lượng thì không xử sự như vua nước Vệ bao giờ. Khoan-dung và tha-thứ là rộng lượng bao dung, hay tha-thứ những điều sai sót lỗi lầm của người khác đối với mình để cho người có phương giác ngộ, tự-tĩnh ăn-năn từ việc quấy trở về với lẽ phải. Người có tánh khoan-dung thì hay tha-thứ vì họ quan-niệm rằng: “Nhơn vô thập toàn”. Ở đời không ai sanh ra được toàn thiện, nghĩa là tự mình kiểm-điểm cũng phải có sơ-sót, vì vậy mà không cố chấp người.
Đó là nói về bậc thường. Còn các bậc Thánh-Nhân, đức khoan-dung dày-dặn hơn nhiều vì các bậc ấy đầy lòng ái-truất thương sanh, nặng về giáo-hóa hơn là trừng-trị. phải vui-vẻ, điều-hòa, tự-chủ và quyết đoán Thuở xưa có ông Lưu-Khoan là một vị quan có tấm lòng khoan-dung độ-lượng. Buổi sáng, khi mặc áo đi chầu vua, có con thị-tỳ bưng bát cháo lên hầu, chẳng may làm đổ cháo dính áo.
Con thị-tỳ run sợ quá, lấy tay vuốt áo, nhưng Ông Lưu-Khoan thản nhiên không đổi sắc mặt, còn ôn-tồn hỏi rằng: – “Cháo nóng có phỏng tay con không?” Đó là một tấm lòng khoan-dung đại-lượng, chẳng những không quở phạt mà còn thương xót kẻ hầu hạ, phát xuất nơi lòng “nhân”mà ra vậy.
PHẢI VUI-VẺ, ĐIỀU-HÒA, TỰ-CHỦ VÀ QUYẾT ĐOÁN
Có vui-vẻ thì tâm hồn mới được thơ-thới, có vui-vẻ mới cởi mở được cỏi lòng vốn hay bực dọc do sự phiền toái hằng ngày. Có vui-vẻ mới tạo ra bầu không khí khoan- khoái dễ chịu cho riêng mình và cho tất cả mọi người xung quanh mình. Sự vui-vẻ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, chẳng khác nào thuốc bổ hổ-trợ con người được tươi-tắn, chậm già trước tuổi và nảy nở nhiều tánh-đức tốt để thâu phục được cảm-tình của người khác.
Điều-hòa là êm-ái, hòa-thuận. Điều-hòa là tượng- trưng trật-tự chung trong trời đất (loi d’harmonie), và đạo Trung-dung của loài người. Vũ-trụ có điều-hòa thì càn-khôn mới an tịnh. Âm-dương có điều-hòa thì vạn-vật mới được sanh sanh hóa hóa. Xã-hội có điều-hòa thì dân chúng mới hưởng sự thanh-bình. Gia-đình có điều-hòa thì mọi người mới an vui hạnh-phúc. phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba đại-đạo Lễ-nhạc có điều-hòa thì mới có tiết-tấu âm thanh.
Thân-thể con người có điều-hòa thì máu huyết mới lưu thông, khỏe mạnh. Tâm-trí có điều-hòa thì con người mới sáng-suốt. Trái với sự điều-hòa là hổn loạn, không trật-tự. Người luyện-kỷ cần giữ tâm tánh điều-hòa, tức giữ được cái đạo Trung-dung thì linh- tâm mới thuần nhất mà soi sáng lòng mình hầu dìu độ đến chỗ tận thiện tận mỹ. Tự-chủ là tự mình làm chủ lấy mình không để bị lôi cuốn bởi ngoại vật, ngoại cảnh.
Không để ai lợi dụng sai khiến mình làm việc trái với lương-tâm, trái với lẽ Đạo. Quyết-đoán: Khi mọi việc được suy nghĩ tinh-tường, kỹ-lưỡng phù hợp với chánh lý, tức là đã phán-đoán công- minh rồi nhất định đem ra thực-hành. Quyết-đoán là cương-quyết, dứt khoát, không lưng chừng, là yếu-tố đoạt đến mức thành công trong mọi việc.
GIỮ LINH-TÂM LÀM CĂN BỔN
Linh-tâm là điểm linh-quang của Đức Chí- Tôn ban cho mỗi người để làm chủ cả trí-lự và thể-xác. Linh-tâm là ánh huệ-quang dẫn bước con người trên đường ngay lẽ phải để lập công đoạt vị. Đã gọi Linh-tâm là chủ của con người thì mọi việc chi cũng do Linh-tâm làm căn bổn. Thuận với Linh-tâm là thuận theo Thiên-lý thì muôn việc đều nên. Nghịch với Linh-tâm tức là xu-hướng theo phàm tánh thì mọi việc đều sai siển, lỗi lầm. hiếu hạnh với chí-tôn và phật-mẫu Muốn giữ được cái tâm cho còn bổn nguyên chí linh, chí Thánh, thì đừng để lục-dục thất-tình lấn áp, làm mờ tối cái ánh sáng thiêng-liêng đó, tức là dọn mình cho trong sạch mới thấy được cái Tâm là nơi cảm ứng với các Đấng Trọn-Lành và cũng là Tòa ngự của Đức Chí- Tôn nơi lòng mình đó vậy.
Đức Chí- Tôn có cho bài thi: Bạch-Ngọc từ xưa đã ngự rồi, Chẳng cần hạ giới vọng cao ngôi. Sang hèn trối kệ Tâm là quí, Tâm ấy Tòa Sen của Lão ngồi. Và trong “Thánh-Ngôn Hiệp- T uyển” quyển 2 có bài thi: Gắng sức trau giồi một chữ Tâm, Đạo Đời muôn việc khỏi sai lầm. Tâm thành ắt đặng đường tu vững, Tâm chánh mới mong mối Đạo cầm. Tâm ái nhơn sanh an bốn biển, Tâm hòa thiên-hạ trị muôn năm.
Đường Tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn, Có buổi hoài công bước Đạo tầm.
HIẾU HẠNH VỚI CHÍ-TÔN VÀ PHẬT-MẪU
Công-đức sinh thành dưỡng-dục của Cha Mẹ hữu- hình lớn lao bao nhiêu cũng không sánh bằng công-đức của hai Đấng Tạo-Đoan là Ông Cha, Bà Mẹ Thiêng-Liêng tối cao tối trọng hơn nhiều. phương luyện-kỷ đặng vào con đường thứ ba đại-đạo Cha Mẹ hữu-hình ban cho chúng ta một mãnh thân phàm xác thịt, thì hai Đấng Phụ-Mẫu Thiêng-Liêng ban cho chúng ta nhứt điểm linh và một khối Chơn- Thần để làm chủ xác thân ta.
Muốn đền đáp công ơn đó, chúng ta phải hiếu-hạnh. Hiếu-hạnh với Phụ-Mẫu hữu-hình là sớm thăm tối viếng, vâng lời chìu lụy, ân cần dưỡng nuôi, tạo danh thơm tiếng tốt, làm đẹp mặt nở mày Tông-môn Tổ-đường thì đối với Phụ-Mẫu Thiêng-Liêng chúng ta cũng phải: Thường xuyên cúng kính, lễ bái thường hành hôm sớm (Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bày mộ khang) cho hằng bữa tâm hồn được gần-gũi ân điển Thiêng-Liêng, gột rửa chất phàm, giải tiêu oan-nghiệc, tinh-thần trí não được sáng-suốt để thể Thiên hành Đạo cho đúng với Luật-Pháp Chơn- Truyền.
Nghe và làm theo Thánh-Ngôn các Đấng Thiêng-Liêng, Đức Chí- Tôn và Phật-Mẫu tức là biết vâng lời phục vụ. Giữ tròn câu minh thệ, xả thân vì Đạo đem hết năng lực phụng-sự cho Vạn-Linh làm rạng danh Đức Chí- Tôn và Phật-Mẫu tức là báo hiếu đó vậy.
PHƯƠNG-PHÁP TR Ị TÂ M
vì tâm là hình ảnh Thiên-Lương
ĐỊNH-NGHĨA CHỮ TÂM VÀ PHÉP TRỊ TÂM THEO NHO-GIÁO
Trong Nho-Giáo có định-nghĩa: Tâm không phải là cục máu thịt, không phải quả tim nằm trong lồng ngực của chúng ta. Tâm ở phạm-vi tinh-thần, chỗ nào có trí-giác tức là Tâm, như tai mắt biết nghe biết thấy, chân tay biết đau biết ngứa. Sự biết đó là Tâm vậy. Hiểu rộng thêm, Tâm là một khối Ngươn-Linh của Đức Thượng-Đế ban cho, vốn trọn lành, nắm phần chủ-tể trong con người. Từ bậc Thánh đến thường dân, từ hạng ngôi cao lộc cả đến hạng khố rách áo ôm, ai cũng có một cái Tâm ấy mà thôi.
Nhưng tại sao cái Tâm tự Trời phú bẩm như nhau, mà người nầy làm việc Thiện, kẽ kia làm việc Ác? Bỡi tại cái Tâm của kẻ làm ác bỏ mất bản-thể. Bản- thể của Tâm vốn tốt lành trong sạch, nhưng tại người ta đem nhồi bao nhiêu nhơn-dục thấp hèn nhơ bợn xen vào mà che lấp cả Thiên-lý mới hóa ra ác. Cũng như đám mây mù che lấp mặt trời mất sáng vậy. Bỡi cớ, cần phải trị cái ác của Tâm để Tâm trở về Thiên-Lương là cái tánh thiện của Trời phú cho.
Luận về Thiện và Ác của Tâm, Nho-Giáo phân tách: “Tâm bao gồm cả Tánh và Tình. Làm chủ thân mình là Tâm, phú bẩm cho mình là Tánh. Tánh biến ra Tình.” Tánh Thiên-Lý tự Trời phú cho, tánh đó vốn lành. phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương Tánh khí-chất tự người ta tiếp xúc vật-dục mà có, cái Tánh ấy thường làm điều chẳng lành. Tình chia làm 7: Mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét và muốn.
Nhà Phật gọi là thất-tình của con người. Phép chế-ngự thất-tình là cần đè sự giận, nén lòng dục. Nóng giận thì mất cả trí khôn không còn biết phân biệt lẽ phải, vậy trong cơn giận cần tập tánh ung-dung, điều-hòa để đối phó mọi việc xảy đến cho mình. Còn đè nén lòng dục thì lòng đừng suy nghĩ sự gì xấu xa nhơ bợn, nghĩa là bỏ được ác niệm, thì thiện niệm tự nhiên đến, lẽ phải hiện ra.
ĐỊNH-NGHĨA CHỮ TÂM THEO TÂN-PHÁP ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ
Đoạn trước, Nho-Giáo đã giải-thích: Tâm sanh Tánh, Tánh sanh Tình, cho nên mới có câu: Tánh tự Tâm sanh, và triết-học của Nho-Giáo là: «Tồn Tâm dưỡng Tánh». Ngày nay, Đức Chí- Tôn đến khai Đạo, chữ Tâm được giải rõ hơn và được phân tách như sau, trong bài Thuyết Đạo của Đức Hộ-Pháp: «Nhà Nho nói: ‘Tánh tự Tâm sanh’, đó là lý-thuyết của Đạo Nho. Chỉ biết có một điều là ta quan-sát cơ thể thấy hiện tượng mà tỏa trạng hình được vì Đạo Nho chưa phải là một Tôn-Giáo huyền-bí.
Còn Đức Chí-Tôn đến dạy ta biết rằng Tánh là chơn tướng của Chơn-Thần, còn Tâm là chơn tướng của Chơn-Linh. Chí-Tôn dạy: Tánh của mỗi chúng ta là hình thể thứ nhì của ta, hình thể thứ nhứt là Tâm tức là Chơn-Linh, thứ nhì là Tánh tức là Chơn-Thần, thứ ba là hiếu hạnh với chí-tôn và phật-mẫu xác-phàm thú chất nầy. Chí-Tôn hỏi: Tại sao từ trước đến giờ theo triết-lý Đạo Nho lấy nghĩa “ Tánh tự Tâm sanh” mà tả ra? – Bỡi vì nó có liên-quan mật thiết cùng nhau, trong Tâm mình như thế nào là xuất Tánh ra y như vậy.
Nhà Nho lấy hiện-tượng mà đặt tên, còn Chí-Tôn chỉ rõ cho biết: Chơn-Thần cũng tấn bộ như Chơn-Linh. Mỗi cá-nhân đều có hai năng-lực ấy có đủ quyền-năng đào tạo ra hình hài xác thịt của ta. Một Chơn-Linh cao trọng tự nhiên có một Chơn-Thần cao trọng, bỡi cả hai đi đôi, đồng đường với nhau, cả hai có liên-quan mật thiết, cùng tấn triển trong con đường Thánh-Đức của Chí-Tôn. Vì không có tên nên Nho-Giáo mới đặt linh-thể ấy là Tâm, lấy Tâm đặt tên chơn thể, chữ Tâm ấy do tướng hình Thiên-Lương vi bổn.» Như vậy, chữ Tâm của Nho-Giáo đã thống hiệp cả Chơn-Linh và Chơn- Thần làm một, cho nên chữ Tâm của Nho-Giáo gồm có Thiện và Ác, vì Tâm sanh Tánh, Tánh sanh Tình.
Thầy Mạnh- Tử chủ-trương thuyết “Tính Thiện” lấy câu “Thiên-mạng chi vị Tánh” làm căn-bản, nghĩa là cái bãn-tánh của Trời phú cho là Thiện. Ta sở dĩ làm điều bất thiện là bỡi ta để vật-dục lấn át, làm mờ tối cái tánh ấy. Thầy T uân- Tử lại chủ-trương thuyết “Tính Ác” chủ ở sự “Kiểu Tính” nghĩa là cái tính của người ta là Ác, ta phải tìm cách mà uốn nắn cái tính cho hợp Đạo để làm điều Thiện.
Trong một cái học của Nho-Giáo mà thành ra hai thuyết tương-phản nhau, tuy vậy phương-pháp giáo-dục cũng tương tợ nhau. Cả hai đều có quan-niệm riêng về phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương Thiện và Ác tùy theo sự nhận thức của mình, và rốt lại cho ta thấy Tâm vẫn là nơi chứa cả tính Thiện và tính Ác, cho nên quan-niệm Thiện và Ác của Nho-Giáo vẫn lẫn-lộn và tương phân.
Còn theo Tân-Pháp của Đại-Đạo thì Tâm là chơn- tướng của Chơn-Linh , là khối Ngươn-Linh của Đức Chí- Tôn vốn trọn lành và hoàn-toàn sáng-suốt. Chơn-Linh đến loài người để chế-ngự Chơn- Thần là nơi phát sanh ra Tánh. Nếu Chơn- Thần được định tĩnh, trong sạch, sẽ tiếp được điển của Chơn-Linh nơi Nê-hườn-cung mà khai Huyền-quang-khiếu, tức là đoạt huệ hay đắc Đạo. Vậy Chơn-Linh là linh-thể bất nhiểm và chí thiện.
Tánh là chơn-tướng của Chơn- Thần, thuộc thể thứ nhì của con người do Đức Phật-Mẫu ban cho. Chơn- Thần cũng sáng-suốt như Chơn-Linh, nhưng vì gần-gũi với thể xác và lấy y khuôn rập của xác thân nên Chơn- Thần, thay vì làm chủ lục-dục thất-tình, lại hay nuông chìu và nhiểm theo phàm-tánh của xác thân mà sanh ra những tánh ác, bỏ mất tánh thiện. Phương-pháp trị tâm là dứt bỏ được cái phàm-tánh triêm nhiểm trong Chơn- Thần, trở lại bổn nguyên chí Thánh của Thiên-Lương, tức thị Chơn- Thần hòa-hiệp với Chơn-Linh mà đoạt cơ siêu-thoát. đức -tin và khôn ngoan là kho chí bữu, ngoài ra là của bỏ, là đồ vô giá