Phương-Pháp Trị Tâm

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

Trong các đức tánh, chỉ có đức-tin và sự khôn ngoan mới là kho tàng quí báu. Trước hết, chúng ta tìm hiểu thế nào là đức-tin. Đức-tin là một sức mạnh vô hình do tư-tưởng tập trung hướng vào một mục-đích, một chủ-nghĩa, một cảnh giới vô hình để đoạt một kết-quả, một chân-lý siêu việt. Đối với Đạo-Giáo, có một đức-tin mới có cảm-ứng, có sự cảm thông giữa các Đấng Vô Hình và loài người.

Vì Thượng-Đế là Chí-Linh, chúng sanh là Vạn-Linh, nhờ Đức-tin hay Tín-ngưỡng mà Vạn-Linh hiệp được Chí-Linh. Cho nên, có câu: «Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên Địa tất giai tri.» Trong buổi Thuyết Đạo tại Đền Thánh (15/7/1952), Đức Hộ-Pháp có định-nghĩa danh-từ Tín-ngưỡng và hình-thức Đức-tin như sau: «Tín-ngưỡng: Tín là tin, ngưỡng là cậy. Tín-ngưỡng tức là tin cậy theo nghĩa thông thường tiếng Việt từ xưa đến giờ.

Ngày xưa, thời gian phong-kiến, danh-từ Tín-ngưỡng có nghĩa là tin cậy với sự thành kính một Đấng Đế-Vương, hào-kiệt nào. Đối với Đạo-Giáo, ý-nghĩa càng thêm cao trọng, người ta cho nó là cái Đức, gọi là “ Đ ứ c-Ti n”. Con người cần có Đức-tin, nếu không, chưa hề làm xong bổn-phận con người. Đức-tin có hai hình-thức: Tha-tín và Tự-tín. phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương Tha-tín là mình tin nơi người, dầu người có định hướng nào buộc mình phải tin.

Còn Tự-tín là ta biết lấy ta, hiểu sở-năng và tin cậy lấy ta. Các vị Giáo-Chủ như Đức Thích-Ca, Đức Lão-Tử, Đức Chúa Jésus Christ, Đức Khổng-Tử dùng tự-tín là đem giáo-lý của mình hiệp với tha-tín là giáo-lý và phương-pháp của các vị có trước như: Đức Brahma, Civa, Krishna, Đức Hồng-Quân Lão-Tổ, Thánh Moise mà truyền giáo.» Ngoài ra, Đức Hộ-Pháp còn phân ra 3 loại Đức- Tin: 1.– Thiên-căn Đức- Tin, 2.– Sám-hối Đức- Tin, 3.– Cầu lợi Đức- Tin.

Th iên- c ă n Đ ứ c-Ti n: là những bậc Nguyên-nhân trọn giữ tánh chất lương-tri, lương-năng vẫn còn tự nhiên, làm điều gì cũng có đủ Đức- Tin nơi Chí- Tôn là Chủ- Tể trong Càn-khôn Thế-giới và biết kiên sợ luật-pháp công- bình của Tòa Chánh-trị Thiêng-Liêng đủ quyền-năng thưởng phạt, cho nên mọi sự hành-trình bao giờ cũng noi theo đường Thiên-lý thì tự nhiên có các Đấng ám trợ.

S á m-hối Đ ứ c-Ti n: là những người không biết tin tưởng Trời, Phật, đến khi lâm nạn mới cầu khẩn sùng bái, nguyện vái đủ điều may đặng tai qua nạn khỏi thì từ ấy khư khư vẹn giữ Đức- Tin với Thần, Thánh, Tiên, Phật, biết cải ác tùng lương. Ấy là Sám-hối Đức- Tin. C ầ u-lợ i Đ ứ c-Ti n: là những người khẩn cầu về sự làm ăn mua bán, hoặc là cầu nguyện đi cờ bạc, có đôi khi gặp lúc may đắc lợi thì cũng có Đức- Tin với Thần, Thánh, thường hay sắm lễ vật cúng kiến luôn.

Đến khi thời suy vận bỉ, mọi việc làm thất bại, thì tự nhiên mất hẳn Đức- đức -tin và khôn ngoan là kho chí bữu, ngoài ra là của bỏ, là đồ vô giá Tin, mà còn thốt ra nhiều lời vô độ, phi lễ tổn đức. Ấy là cầu lợi Đức- Tin, không khi nào bền vững. “Sám-hối Đức-Tin cũng khá, mà chưa bằng Thiên-căn Đức-Tin thì muôn điều không sai một. Nếu toàn cả nhơn-sanh mà có đủ Đức-Tin với Đạo Cao-Đài là một cơ-quan Cứu-Thế, làm khuôn mẫu cho sự hòa-bình thế-giới thì chúng-sanh không có chịu thống-khổ như ngày nay, mà lại còn chung hưởng hồng-ân chan rưới.” Vì đức-tin là quí báu, nên trong Kinh Thánh Gia- Tô, Đức Chúa Jésus Christ khuyên các môn-đồ cần giữ đức-tin.

Có đức-tin thì mọi tội lỗi được cứu rỗi, nhờ có đức-tin mà buổi ấy người què được đi, người điếc được nghe, người mù được thấy, người chết được sống lại. Đức Chúa Jésus Christ từng nói với các Sứ-đồ: “Nếu các người có đức-tin bằng hột cải, sẽ bảo cây sung nầy rằng: Hãy nhổ lên mà trồng xuống biển, thì nó chắc vâng lời các ngươi ”. (Kinh- Thánh Tân-Ước) Đức Hộ-Pháp thường dạy: «Nếu chúng ta có đức-tin bằng hột mè, cũng có thể dời non lấp bể được».

Đức- Tin chỉ bằng hột mè, hột cải mà có năng-lực dường đó, nếu chúng ta có đức-tin mạnh-mẽ phi-thương thì năng-lực sẽ tăng lên đến bực nào! Đã biết năng-lực vô biên của đức-tin là thế nào rồi, nhưng chúng ta cũng phải chọn đức-tin nào chánh đáng, phù hợp với chơn-lý Đạo mới là chánh-tín. Nếu không sẽ là mê-tín, cuồng-tín, không còn hạp với thiên-lý nữa, có thể bị dẫn-dắt vào Tả-Đạo, Bàn-Môn.

Sự khôn ngoan là vật báu của con người. Nhờ có khôn ngoan mà người được đứng đầu vạn-vật và tiến-hóa phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương mãi trên đường Đạo cũng như đường Đời, trên phương- diện đạo-đức tinh-thần cũng như trên phương-diện văn- minh vật-chất. Nhưng nếu khôn ngoan nào nương theo Thiên- Lương, hướng-dẫn con người vào đường chí thiện chí mỹ, đó là sự khôn ngoan đạo-đức.

Nhờ sự khôn ngoan nầy mà con người phân biệt được lẽ giả điều chơn, biết thiệt mà tìm, biết hư mà tránh, biết thiện mà theo, biết ác mà chừa. Còn nếu nương theo dục vọng thế tình phàm tánh, thì sự khôn ngoan đó là khôn ngoan xảo quyệt đưa đến việc mua danh chác lợi, cướp thế lấn quyền, giàu hiếp nghèo, trí hiếp ngu, mạnh đặng yếu thua khôn còn dại mất. Người khôn ngoan đạo-đức hay âm thầm làm việc thiện, xả thân giúp ích cho đời.

Còn người khôn ngoan xảo quyệt hay dùng mưu gian trí xảo giành phần lợi ích riêng cho mình, ích-kỷ hại nhơn gây oan tạo nghiệt. Người tu hành không phải thiếu sự khôn ngoan thường tình đó, nhưng tâm linh của họ không muốn xử dụng sự khôn ngoan trái với đạo-đức nhơn-nghĩa để dối thế hại đời. Khôn ngoan tài tình như Hàn- Tín là khôn ngoan vì danh vì lợi, rốt cuộc mang cái thảm họa: chịu chết vì danh vì lợi.

Khôn như Tào- Tháo, người ta gọi là gian ngoan, gian hùng, chủ trương: Thà mình phụ người chớ không để người phụ mình, cho nên đời sau phê-bình là « đại gian đại ác». Khôn như Phạm-Lải, Trương-Lương, không màng danh-lợi, biết tùy thời tùy thế, công thành thân thối, xa vòng tục lụy mà ngao du cùng sơn thủy, rốt cuộc tránh ai đã cố oán kẻ thù của mình thì khó giữ thanh tâm công chánh cho đặng được cái vạ: « Đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nôm» của Việt-Vương Câu- Tiển và của Hớn Bái-Công.

Chỉ có khôn ngoan của người mẫn thế, siêu phàm mới thiệt là khôn, là «tri-thức», dụng trực-giác của tâm linh(1) hoán thông mọi việc, biết đời là trò mộng ảo, giả tạm, hữu-hình hữu hoại, đem hết năng lực phụng sự cho Vạn-Linh, tìm cái sống thiệt và trường tồn nơi cõi Thiêng- Liêng hằng sống. Ấy vậy, đức-tin và sự khôn ngoan có liên-quan với nhau. Khôn ngoan hỗ trợ cho đức-tin hướng về chánh- tín, đức-tin giúp sự khôn ngoan đi đến cái tột cùng của “mẫn-huệ”.

Cho nên: Đức-tin và khôn ngoan là kho tàng vô giá vậy. (1) Trực-giác: là cái biết của Tâm, không cần suy lý, kinh-nghiệm, hễ gặp là biết phân biệt liền. Dùng lý-trí thường bị sai lầm, chớ dùng trực-giác của linh-tâm thì không sai lầm được. Tuy vậy, cũng phải lấy lý-trí phối kiểm trực-giác, vì trong lúc tâm hồn chưa định tĩnh, trực-giác cũng có thể bị suy siển vì bị vật-dục xen vào.

Trực- giác để biết, lý-trí để kiểm-soát (Nho-Giáo).

AI ĐÃ CỐ OÁN KẺ THÙ CỦA MÌNH THÌ KHÓ GIỮ THANH TÂM CÔNG CHÁNH CHO ĐẶNG

Cố oán ai là khư khư giữ sự hờn giận nơi lòng đối với người không làm vừa ý mình hoặc ám hại mình bất cứ dưới hình-thức nào. Ở đời, ai ai cũng có tánh tốt, tật xấu, nếu ai xử dụng tánh tốt đối với mình thì mình cho là bạn là thân với phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương mình, ngược lại, ai lấy tánh xấu để hại mình thì mình cho là thù. Bạn thì thương yêu, thù thì oán ghét.

Thương thì chuyện gì dầu trái ý cũng bỏ được, ghét thì chuyện ít cũng xít ra nhiều. Khi ta ghét một người nào, thì luôn luôn ta thấy toàn cái xấu của người đó, dầu cho người đó có bao nhiêu cái tốt ta cũng phủ nhận hoặc cố tình quên đi. Do đó, tâm trí ta bị ám ảnh mãi mãi, chực tìm cách trả thù báo oán cho thỏa tánh giận ghét của ta. Ở trường-hợp đó, đối với người mình thù ghét luôn luôn ta phán-đoán sai lầm vì đã phiến diện nhận xét, nghĩa là chỉ thấy cái khuyết-điểm mà quên mất cái ưu-điểm của người.

Cho nên: Ai cố oán kẻ thù thì khó giữ được tâm tánh thản nhiên và vô-tư. Tâm đã không vô-tư tức là thiên lệch thì làm thế nào giữ nét công-minh, chơn-chánh đối với người cho được.

AI CHẲNG OÁN HẬN MỚI THẮNG ĐẶNG KẺ THÙ NGHỊCH CÙNG MÌNH

Trên kia chúng ta đã quan-niệm thế nào là bạn, thế nào là thù, và muốn giữ được thanh tâm công-chánh đối với kẻ thù chỉ có một cách là không cố tâm oán ghét họ. Và muốn thắng được họ cũng chỉ áp dụng phương-pháp duy nhứt là không nuôi oán hận. Thắng kẻ thù nghịch cùng mình không phải bằng cách tiêu diệt hay hạ kẻ thù, mà thắng ở đây là thuyết phục bằng cách cảm hóa lòng người. Kẻ thù nghịch có thể nói là kẻ có ác ý mưu hại mình vì ích-kỷ, đố-kỵ, ganh-ghét v.v… hay vì một sơ-xuất nào đó của mình làm cho họ ngộ nhận mà sanh ra gây gổ oán thù.

Sự cừu hận là khối thảm kh Ổ đệ nhứt của nhơn -Sanh, nên người hiền thì không biết đến hay là từ bỏ cừu hận oán gh Ét Gặp trường-hợp đó, nếu thiếu kiên nhẫn, ta cũng đố-kỵ, ganh-ghét trả đủa, tức là lấy phàm tánh của mình đối lại phàm tánh của người thì không bao giờ chấm dứt một tình-trạng căng-thẳng, chống đối nhau có thể đưa tới sự xung đột, hoặc án mạng. Vậy oán hận kẻ thù thì ta không khác chi họ.

Trái lại, ta vẫn giữ tánh ôn-hòa, cao thượng quân-tử, không cưu tâm oán hận, bình thản như không việc gì xảy ra, giữ tâm không không thì dầu kẻ thù có oán giận bao nhiêu, sớm muộn gì cũng suy nghĩ lại tự thấy mình vô lý, và lần hồi mối thù sẽ phai lợt, tiêu tan. Chẳng những không cố oán kẻ thù, Đức Hộ-Pháp còn khuyên chúng ta nên thương kẻ thù theo châm-ngôn sau đây: – Chúng ta thương yêu bà con thân tộc là kiếm xu và bạc cắc mà thôi. – Còn thương rộng ra nhơn quần xã-hội, đồng chủng quốc-dân, thì chúng ta kiếm bạc đồng và bạc chục. – Nếu thương yêu cho được kẻ thù của mình tức là kiếm bạc trăm, vàng khối đó vậy.

SỰ CỪU HẬN LÀ KHỐI THẢM KHỔ ĐỆ NHỨT CỦA NHƠN-SANH, NÊN NGƯỜI HIỀN THÌ KHÔNG BIẾT ĐẾN HAY LÀ TỪ BỎ CỪU HẬN OÁN GHÉT

Oán giận nảy sanh căm thù. Căm thù đưa đẩy con người đến chỗ tương-tàn tương-sát, gây nên trường thảm khổ và tội lỗi. phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương Sự cừu hận là mầm mống gây oan tạo nghiệt, luân hồi chuyển kiếp vay trả không ngừng, lẫn-quẩn trong vòng sanh tử biết bao giờ giải-thoát kiếp trần là chốn phiền não ưu sầu nầy. Người học Đạo, hành Đạo, tu luyện nên bậc chí Thánh chí Hiền thì không oán ghét thù hận ai cả.

Không từ bỏ cừu hận thì tâm trí mãi buộc ràng bỡi mưu sâu kế độc tàn hại lẫn nhau, khối thiên-lương vì đó mà bị che mờ tâm tối. Từ bỏ được sự cừu hận, oán ghét thì tánh tình vui- vẻ điều-hòa, lương-tâm bình thản, thanh khiết mới cảm ứng với các Đấng Trọn-Lành, lý-trí được sáng-suốt mà thực thi điều đạo-đức nhân-nghĩa giúp đời tệ hóa ra hay và linh-hồn mình cũng được tiêu-diêu thoát tục.

Ngày xưa, Giáo-chủ Mahômet bị một người hành hung làm cho Ông đổ máu ở trán, Ông bình tĩnh nói kẻ ấy rằng: “Sự tha-thứ bao giờ cũng đẹp hơn trả thù!”.

CÂU CHUYỆN: *** “ NGƯỜI CHẾT CÒN BÁO OÁN ” ***

Vào khoảng cuối năm 1886, tại đường Sainte Marcelle, bây giờ là đường Sergent Blandan (Pháp-Quốc), có một người đàn bà bị nhốt đã 15 năm rồi vì bịnh điên. Bà bị nhốt như vậy đã nhiều lần tại nhiều nhà nuôi bịnh nhưng không mạnh được. Người trong thân của bà mới tính cầu cứu nơi phép Thần-Linh. Lúc đó có ông Bouvier thường hay thông công với các Đấng Thần-Linh và nhờ đồng cốt của tên Isidore. Ông mới lập đàn cầu hỏi thì được biết rằng người đàn bà ấy bị một vong hồn theo trả thù.

Muốn cho bịnh đặng mạnh Sự cừu hận là khối thảm kh Ổ đệ nhứt của nhơn -Sanh, nên người hiền thì không biết đến hay là từ bỏ cừu hận oán gh Ét thì ông Bouvier phải ra công khuyến thiện cái vong hồn đó cho nó hiểu biết Luật nhơn-quả, bỏ cựu thù mà chặt đứt dây oan oan tương báo đi, như vậy sẽ làm một công mà được hai việc là: “ Cứu người bịnh đang sống, và thức tỉnh vong hồn kẽ đã chết”.

Nghe theo lời Thần-Linh, ông mới triệu hồn người nhập xác điên đó về, thì vong hồn ấy về nói như vầy: “Trong một kiếp trước kia, tôi là một người con trai nước Nga, sanh trong nhà Hoàng-tộc, tôi có hai người chị. Hai chị tôi muốn đoạt trọn gia tài nên kiếm chuyện hại tôi cho bị giam cầm mà chết trong khám. Chết rồi tôi nguyện trả thù cho đặng mới nghe. Kiếp rồi Thượng-Đế cho chúng tôi trở lại cõi trần trong một gia-đình, một đàng là chị dâu, một đàng là em chồng.

Chị em ở chung một nhà, mà chẳng biết tại sao tôi lại ghét chị dâu tôi quá lẽ, ghét cho đến ngày tôi từ trần. Sau nầy, tôi mới hiểu rõ chị dâu của tôi đó là chị ruột của tôi kiếp trước. Biết vậy nên tôi theo hoài mà báo thù, vì khi xưa chị tôi đã làm cho tôi chết trong chỗ giam cầm, thì tôi cũng làm cho chị phải chết trong nhà giam như vậy. Nhưng hôm nay, nhờ ông tế-độ, dạy tôi phải biết Luật Quả-báo, Luân-hồi.

Nếu cứ trả oán như vậy đã không có ích gì cho phần linh-hồn của tôi mà lại gây ra sự trả vay chẳng dứt. Vậy tôi cám ơn ông và xin vâng theo lời ông chỉ dạy và tôi cũng xin lỗi chị tôi. “Chị ôi! Xin chị tha-thứ cho em đã lỗi lầm, làm cho chị 15 năm trời không an phần xác…” Nói rồi đồng-tử lại gần bà B. là người điên, mà ôm bà, rồi hai người khóc òa như mưa, làm cho ai nấy động lòng cũng tuôn rơi nước mắt.

Liền hồi đó, bà B. hết điên và sống khỏe mạnh cho đến năm được 72 tuổi mới chết. (Chuyện nầy ai cũng biết phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương là bà B. phát điên từ khi em chồng bà chết, và khi còn sống người em chồng ghét bà lắm!) Trong Phương Luyện-Kỷ có câu: “Sự cừu hận là khối thảm khổ đệ nhứt của nhơn-sanh, nên người hiền thì không biết đến, hay là từ bỏ cừu hận oán ghét ”, và sách có câu: “Oan gia nghi giải bất nghi kết ”.

Nghĩa là: «Nên cỡi mở sự thù oán chớ không nên buộc chặc ».

THẮNG ĐẶNG KHÍ NỘ MÌNH THÌ KHÔNG CHỌC AI GIẬN DỮ

Khí nộ là sự nóng giận, một đặc tính trong 7 tình: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, Ái, Ố, Dục. Vì sự nóng giận hay bộc phát nên người ta ví như ngọn lửa lòng, khi phát cháy làm mờ ám tâm trí mình mà còn cháy lây qua người khác, nghĩa là chọc người khác cũng giận như mình. Người ta thường nói: “No mất ngon, giận mất khôn”. Khi con người nổi cơn nộ khí thì tâm trí bị kích-thích giao động đến mất bình tĩnh, không còn khôn ngoan sáng-suốt nhận định lẽ phải trái, lời nói thốt ra trong lúc giận không còn đếm xỉa đến ai, cho nên cộc-cằn thô-lỗ, thất lễ với mọi người chung quanh, chạm tự-ái kẽ khác, kích-thích cho người phát cơn giận dữ, cải vả đến xô-xát nhau làm mất vẻ đạo-đức ôn-hòa.

Vì vậy, khi gặp việc bực tức đến đâu, mình cũng cố gắng dằn cơn nóng giận để khỏi sanh lắm chuyện phiền- phức cho mình và cho người khác.

PHƯƠNG-PHÁP DẰN CƠN NÓNG GIẬN

Người ta thường nói: “ Dây dùn khó đứt” hay “A n h thắng đặng khí nộ mình thì không chọc ai giận dữ nóng còn tôi nguội ”. Đó là câu nói của những người biết dằn cơn giận bằng sự kiên nhẫn nhịn-nhục, và thường được kết-quả tốt. Phàm ai cũng có tánh nóng giận, hằng ngày xảy ra luôn vì sự va chạm tâm-lý, tự-ái cá-nhân… Cho nên, những vị tu tâm luyện tánh rất sợ cơn nóng giận hằng tìm phương dứt bỏ.

Các vị ấy đặt ra nhiều phương-pháp: – Khi nóng giận, đi uống một ly nước lạnh. – Khi nóng giận, đi kiếm chuyện khác làm: rửa mặt, tắm… – Khi nóng giận, thì nói thầm như vầy: Tôi không nên nóng nảy. – Khi nóng giận, có người lại nói: Luôn luôn tôi vui-vẻ ôn-hòa. T uy đặt ra nhiều phương cách, nhưng tùy trường- hợp áp-dụng cách nào có hiệu-quả là được.

CÁCH LÀM CHO KHỎI TỨC GIẬN

(Rút trong Cổ-Học Tinh-Hoa) Người ta ở đời đối với nhau, người mà gặp phải kẻ xử với mình một cách ngang ngược, thì nên coi như đi trong bụi rậm, áo vướng phải gai, chỉ nên thong-thả đứng lại gở lần ra mà thôi. Cái gai gốc kia có biết gì mà đáng giận? Xử được như thế thì tâm mình không phiền não mà bao nhiêu nỗi oán giận cũng tiêu tan được ngay. Cổ- nhân có câu nói: “Ta nên coi những sự ngang ngược phạm đến ta như chiếc thuyền không, lở đâm phải ta, như cơn gió dữ lở tạt phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương phải ta, ta nghĩ cho cùng, có gì mà đáng giận”.

Giận lên là phát cơn điên, Người khôn hóa dại, người hiền hóa ngu.

LẤY THIỆN MÀ TRỪ ÁC

Thiện là lành, Ác là dữ. Lành, dữ là hai đối tượng trong tâm tánh loài người. Khi định-nghĩa chữ Tâm, Thánh-Nhân đã phân tách những tánh tốt và tánh xấu của con người rõ-ràng minh bạch, rồi chung kết lại trong hai danh-từ: Thiện và Ác. Tánh Thiện tuy được suy rộng nhưng đại để có thể gồm trong giáo-điều của các Tôn-Giáo. Phật-Giáo dạy: Từ-bi, bác-ái; Khổng-Giáo dạy: Tam-cang, ngũ-thường (Nhơn, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín).

Thiên-Chúa-Giáo dạy: Thương yêu, khoan dung, tha thứ v.v… Nghịch với tánh Thiện là tánh Ác. Những kẻ hung dữ, bạo tàn, cướp của giết người thì gọi là làm ác. Những người ăn ở thất đức bất nhân, oán thù cừu hận, ích-kỷ tham lam cũng là làm ác. Làm thế nào để trừ được ác? Về nội tâm, không thể trong một lúc người ta vừa làm ác vừa làm thiện. Nếu để cho cái ác dấy động trong tâm thì đã mất tánh thiện.

Còn vận dụng cho được tánh thiện thì tự nhiên tánh ác lu mất. Vậy muốn trừ ác trong nội tâm thì tập trung cho được tánh thiện. Đối xử với người ngoài: Đức Hộ-Pháp dạy: «Lấy lấy thiện mà trừ ác Thiện mà trừ Ác», có nghĩa là lấy ân báo oán hay dĩ đức báo oán, nghĩa là lấy cái ân đức, cử chỉ đạo-đức của mình để cảm hóa người làm ác, thì mới sửa được cái ác của người. Có câu: Lấy đức báo oán, oán nọ phải tiêu.

Lấy oán báo oán, oán còn mãi mãi. Thí dụ: Người có tánh ích-kỷ, ta phải vị-tha. Người có tánh ghét ganh, ta phải thương yêu. Người có tánh cố chấp, ta phải rộng lượng. Người có tánh ác bạo, ta phải hiền đức.

CHUYỆN: TƯỚI DƯA CHO NGƯỜI

«… Ông Tống- Tựu làm quan Huyện nước Lương, giáp ranh nước Sở. Dân hai bên Lương, Sở cùng trồng dưa. Người bên Lương siêng năng tưới nước nên dưa tốt, người bên Sở làm biếng ít tưới nên dưa xấu. Người nước Sở thấy dưa bên Lương tốt, bên mình xấu thì sanh ra ganh ghét, đêm đêm cứ lẻn sang cào dưa bên Lương đến đổi dưa bên ấy phải héo chết một ít. Sau người bên Lương biết chuyện, tức giận muốn qua cào dưa bên Sở, ông Tống- Tựu hay được mới bảo rằng: “Ôi, tại sao thế!

Làm như thế chỉ là cách gây thù oán, chuốc tai vạ thôi. Nầy ta bảo ngươi, chớ sang cào dưa của người ta, cứ đêm đến lẻn sang tưới dưa cho người ta mà đừng để cho người ta biết”. Người nước Lương cứ thế mà làm. Sau dưa bên Sở mỗi ngày một tốt, người nước Sở lấy phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương làm lạ, xét mãi mới biết người nước Lương làm giúp. Quan Huyện bên nước Sở hay được việc ấy lấy làm khen ngợi tâu lên vua Sở.

Vua Sở buồn bả và có ý thẹn, nghĩ rằng: Ngoài cái tội đi cào dưa của người ta, chắc còn nhiều việc khác đáng tội với người ta nữa. Vua bèn lấy nhiều của cải sang tạ tội vua Lương và xin giao hiếu, nghĩ rằng dân mà còn được như vậy ắt người lãnh-đạo phải đạo-đức nhân-nghĩa. Phê bình chuyện nầy, Đức Lão- Tử có nói: “Báo oán dĩ đức” nghĩa là đem cái đức để báo oán. Ôi, ở đời người ta đã làm không phải, sao ta lại còn bắt chước người ta.

Sao không lấy thiện mà trừ ác…» (Cổ-Học Tinh-Hoa)

LẤY NHƠN-NGHĨA TRỪ BẠO TÀN

Nhân là lòng thương yêu người, vật chẳng luận sang hèn. Nghĩa là làm những việc đáng làm để giúp ích cho người. Nhân-nghĩa nói chung là thương người mến vật, không tham lam lợi lộc, biết giúp khó trợ nguy. Bạo tàn là hung ác, hành động trái với công-lý và nhân-đạo. Lấy nhân-nghĩa trừ bạo tàn, cũng như lấy Thiện mà trừ Ác. Đời Đông-Châu, các Liệt Quốc tranh hùng, nước lấy nhơn-nghĩa trừ bạo tàn lớn hiếp nước nhỏ, người trí hiếp người ngu, sự tàn ác dẫy đầy, loạn-lạc khắp nơi.

Đức Khổng-Phu- Tử đem Nho-Giáo truyền bá cốt để sửa đời tồi tệ hóa ra đời Thánh-Đức. Trong các thuyết Ngài dạy chỉ có Nhân-Nghĩa là đứng đầu trong khi Ngài châu du các nước để dạy các bậc vua chúa. Thuyết «Nhân-Nghĩa Đạo-Đức» đã làm sáng tỏ, phân biệt hai chủ-thuyết Vương-Đạo và Bá-Đạo. Vương-Đạo thi-hành đạo-đức, nhân-nghĩa. Bá-Đạo chủ-trương độc đoán bạo tàn. Dụng đạo-đức, nhân-nghĩa thì đời thạnh trị, dụng bạo-tàn thì đời loạn.

Trong thế tranh hùng thu phục dân tâm qua các triều-đại xưa thì nhơn-nghĩa luôn luôn thắng bạo tàn. Văn-Vương thắng được Trụ lập nhà Châu, cũng nhờ nhân-nghĩa. Tần- Thỉ-Hoàng bạo ác bị mất nước chỉ vì thiếu nhân-nghĩa. Hớn-Bái-Công và Sở Bá-Vương tranh nhau vào chiếm Hàm-Dương lật đổ nhà Tần, Hớn-Bái-Công thành công, Sở Bá-Vương thất bại cũng vì Hớn-Bái-Công biết thiệt dụng nhân-nghĩa của Vương-Đạo, còn Sở Bá-Vương thì bạo-hành theo Bá-Đạo.

Nhân-nghĩa đứng đầu các đức-tính cho nên Thầy Mạnh- Tử dụng hai chữ nhân-nghĩa để làm bản tính cho con người, việc chính-trị cũng phải lấy nhân-nghĩa làm gốc. Đức Hộ-Pháp có dạy: T u nhơn thành Thần, phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương Niệm nhơn thành Thánh, Hành nhơn thành Tiên, Đắc nhơn thành Phật. Và trong Kinh Sám-Hối có câu: Làm người nhân-nghĩa xử xong, Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.

Làm người nhân-nghĩa giữ tròn, Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.

LẤY LÒNG QUẢNG-ĐẠI ĐẶNG MỞ TÂM-LÝ HẸP HÒI

Quảng-đại là rộng lớn bao la. Lòng quảng-đại là lòng rộng-rãi, không gò bó vào việc nhỏ mọn tội-tiết. Người có lòng quảng-đại thường có những đức-tính khoan dung đại lượng, tha-thứ và không hay cố-chấp. Tâm-lý hẹp-hòi là tánh hay tị-hiềm, cố-chấp, so đo vụn-vặt không có tầm hiểu biết rộng-rãi để làm được việc gì lớn lao có ích cho đồng-bào xã-hội. Tâm-lý hẹp hòi sanh ra tánh ích-kỷ, bòn chen, chỉ biết có lợi ích cho riêng mình.

Người có tánh hẹp hòi ít chịu rộng lượng tha-thứ ai, cho nên trong gia-đình thường hay xích-mích bất hòa chỉ vì hay câu chấp khắc-khe với nhau. Ngoài xã-hội hay gò bó, cấu kết những chuyện nhỏ nhen. Vậy muốn mở tâm-lý hẹp hòi, cần phải có lòng quảng- đại, chấp nhận sự rộng lượng, khoan dung, thay vào những tánh tỳ ố, bắt bẻ, so hơn tính thiệt từ những chuyện vụn- vặt không đáng. lấy lòng quảng-đại đặng mở tâm-lý hẹp hòi Khi đã tập được lòng quảng-đại thì tự thấy tâm hồn mình được thoải-mái, thanh-nhàn, gây bầu không khí cởi mở, êm dịu chung quanh mình, không còn những bất mãn, bứt rứt lương-tâm như trước nữa.

MỘT GƯƠNG QUẢNG-ĐẠI VÀ QUÂN-TỬ: *** LẠN-TƯƠNG-NHƯ VÀ LIÊM-PHA ***

«… Lạn- Tương-Như và Liêm-Pha là môn hạ nước Triệu của Huệ-Văn-Vương thời Chiến-quốc. Vì Lạn- Tương-Như có công đoạt lại viên ngọc-bích của vua Triệu nơi tay vua Tần, sau lại cứu vua Triệu khỏi bị vua Tần làm nhục nên vua Triệu nhớ ơn, nói với các quan: “Ta được Lạn-Tương-Như chẳng khác nào được ngồi trên tảng núi, chẳng lo gì sóng gió. Nay ta phong cho Lạn- Tương-Như chức Thượng-Tướng cũng chưa xứng đáng”.

Liêm-Pha thấy vậy sanh lòng tị-hiềm: “Ta có công to đánh thành cướp đất, còn Lạn-Tương- Như chỉ nhờ chút công chót lưỡi mà được làm đến chức Thượng-Tướng trên mình. Vả lại, hắn là một tên xá-nhân của kẻ hoạn-quan, xuất thân hèn mọn, ta đời nào chịu đứng dưới hắn. Nếu gặp hắn, ta giết ngay.” Lạn- Tương-Như nghe những lời nói ấy, mỗi khi gặp buổi chầu đều cáo bịnh không đến, không chịu cùng Liêm-Pha gặp mặt.

Bọn xá-nhân đều cho Lạn- Tương-Như là nhát, nhìn nhau mỉm miệng chê cười. Có lần, Lạn- Tương-Như ra đường, gặp Liêm-Pha trước sau có quân tả hữu theo hầu. Tương-Như thấy vậy, bảo tên đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ cho Liêm-Pha phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương qua khỏi mới đi. Kẻ thủ-hạ thấy vậy tức giận, xúm lại nói với Lạn- Tương-Như: “Chúng tôi bỏ làng xóm, xa thân-thích, đến đây hầu- hạ Ngài, coi Ngài là bậc Trượng-phu.

Ngày nay, Ngài cùng Liêm-Pha Tướng-quân đồng phò một vua, ngôi thứ lại ở trên, thế mà bị Liêm-Tướng-Quân nói một câu hăm doạ chẳng dám đến triều, lại lánh mặt cả ngoài đường. Tại sao Ngài lại sợ Liêm-Tướng-Quân quá vậy? Chúng tôi lấy làm xấu hổ, không muốn theo phò Ngài nữa!” Lạn- Tương-Như hỏi: – Các ngươi xem Liêm- Tướng-Quân uy lực có bằng vua Tần không? Bọn xá-nhân đáp: – Không bằng.

Lạn- Tương-Như nói: – Lấy cái uy-lực của vua Tần trong thiên-hạ không ai dám chống, thế mà ta dám đương nhiên mắng vào mặt vua Tần, làm nhục cả quần thần nước Tần. Ta đây dầu hèn, há sợ Liêm-Pha hay sao? T uy nhiên, ta nghĩ lại, sở dĩ nước Tần không dám đánh Triệu là vì có ta và Liêm-Pha. Nay nếu ta và Liêm-Pha hiềm khích, hại lẫn nhau, ắt Tần thừa cơ chia rẽ của chúng ta mà đem quân đánh Triệu thì nguy hại là dường nào.

Vì vậy ta xem việc nước là trọng, mà thù riêng là khinh. Bọn xá nhân nghe nói đều kính phục. Mãi đến sau Liêm-Pha hiểu được Lạn- Tương-Như, lấy làm xấu hổ, ăn năn đến xin tạ tội. Từ đó, hai người kết làm anh em trọn đời không thay dạ đổi lòng. lấy chánh trừ tà Lạn- Tương-Như đã biết nhẫn-nhục, không oán hận người thù ghét mình, sử-dụng tấm lòng quảng-đại để lo việc lớn, nhờ vậy mà cởi mở được tâm tánh hẹp hòi của Liêm-Pha.

Rốt lại, những đức-tính của Lạn- Tương-Như đã đem đến một sự tốt đẹp cho cả đại nghiệp nước Triệu và cho chính mình…»

LẤY CHÁNH TRỪ TÀ

Chánh là chánh đáng, ngay thẳng, chơn thật. Tà là cong vạy, xéo xiên, giả dối. Chánh là con đường ngay thẳng, con đường đạo-đức nhân-nghĩa. Tà là con đường cong queo, con đường gian ác quỉ quyệt. Muốn đi con đường thẳng trước hết phải giữ cái Tâm cho chơn chánh ngay thật, vì vậy, trong phép tu thân phải chánh tâm trước rồi sau mới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên-hạ. Chánh tâm là giữ cái Tâm cho chơn chánh theo ý thiện, nương theo đường chánh Đạo, thuận tùng thiên- lý.

Muốn giữ tâm chánh phải thành ý, tức là giữ cái ý cho thành, không để tư-tưởng buôn lung, phóng túng theo đường tà vạy. Kềm được cái ý thì định được cái tâm. Tâm chánh là công-bình, chánh-trực, trung hiếu, trung tín, tiết nghĩa, thanh-liêm v.v… Người hành Đạo giữ đúng luật-pháp chơn-truyền không theo Tả Đạo, mê tín dị đoan. Nghịch với chánh tâm là tà tâm. phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương Tà tâm là: bất trung, bất hiếu, bất nghĩa, bội sư, phản bạn, bội tín, lường gạt, dua nịnh, gian tham…

Giữ được chánh tâm thì đức được sáng, tâm được minh, tà thần xa lánh, Thần Thánh hộ trì. Có câu: «Đức trọng quỉ thần kinh », nghĩa là người công-bình chánh trực, đạo-đức hiền lương thì kẽ vạy tà xa lánh, đến các bậc Thần-Linh cũng mến chung giúp vùa. Trong một bài thi của Đức Lý Đại- Tiên có câu: «Chánh-trực kinh oai loài giả dối, Công-bình vùa sức kẻ chơn thành.» Ấy vậy, lấy chánh trừ tà là trụ vững cái chánh tâm để khuất phục lòng tà vạy; dụng nét công-bình sửa nét xéo-xiên.

MỘT SỰ TÍCH: “ CHÁNH-TRỰC CẢM HÓA LÒNG NGƯỜI ” *** TRIỆU-THUẨN CAN VUA ***

«… Thời Đông-Châu Liệt-Quốc, Tấn-Linh-Công là vị vua vô đạo, ham mê tửu sắc, lấy việc giết người làm vui thú. Quan Tướng-Quốc Triệu- Thuẩn đón xa giá ở dọc đường để can vua, vua xiêu lòng hẹn sẽ sửa chửa. Có tên nịnh thần là Đồ-Ngạn-Giả hay được đem lời sàm tấu, Tấn- Linh-Công nghe theo, tìm phương ám hại Triệu- Thuẩn. Đồ-Ngạn-Giả bày kế: “Tôi có biết một người tên Thư-Nghê, người ấy nghèo, lâu nay vẫn được tôi châu cấp, vì cảm cái ơn của tôi dẫu chết cũng chẳng dám chối từ.

Nay sai Thư-Nghê đến giết Triệu- Thuẩn ắt xong.” lấy chánh trừ tà Tấn-Linh-Công nói: “Nếu làm được việc ấy, công của nhà ngươi rất lớn. ” Đêm hôm ấy, Đồ-Ngạn-Giả gọi Thư-Nghê đến nói: “Triệu-Thuẩn chuyên quyền, nay ta phụng chiếu sai ngươi đi giết Triệu-Thuẩn. Vậy nhà ngươi nai nịt hẵn hòi, sáng mai chực ở cửa tư dinh Triệu-Thuẩn, chờ Triệu-Thuẩn vào triều thì xông ra đâm chết.

Việc làm phải thận trọng chớ để hỏng việc.” Thư-Nghê vâng mạng, giắt một con dao vào mình thẳng đến cửa dinh Triệu- Thuẩn. Lúc đó, trời lờ-mờ sáng, xe đã chực sẵn trước cửa, Thư-Nghê lẻn vào trong trông thấy Triệu- Thuẩn đã mặc áo đại triều, đầu đi mũ, tay cầm hốt, vẻ mặt trầm tư, đang ngồi đợi đến giờ triều kiến. Thư-Nghê trông thấy thất kinh nghĩ thầm: – “Kẻ lo việc nước là bậc trung thần, cớ sao vua lại truyền giết đi?

Nay ta nghe lời Đồ-Ngạn-Giả giết một tôi trung là bất trung, mà không giết thì trái mạng vua, ta lại là kẻ bất tín.” Nghĩ rồi liền đứng trước cửa nói lớn. cố ý cho Triệu- Thuẩn nghe: “ Tôi là Thư-Nghê đây, vâng mạng đến giết ông, nhưng thà trái mạng vua, chớ không nỡ hại kẻ trung lương”. Nói xong, rút lưỡi dao trong mình tự-tử. Triệu- Thuẩn là người trung-trực, dám liều chết can vua, mặc dù vua nghe lời sàm nịnh sai người thích khách, nhưng nội tâm Triệu- Thuẩn phát hiện ra ngoài một thể cách anh phong của bậc trung thần, đường đường chánh chánh, thì dù cho kẻ nịnh là Đồ-Ngạn-Giả cũng khó nhẫn tâm thi-hành thủ đoạn, huống chi Thư-Nghê là người nghĩa khí làm sao khỏi cảm-xúc tâm linh, tự xử lấy phương-pháp trị tâm vì tâm là hình ảnh thiên-lương mình bằng cái chết để vẹn toàn trung nghĩa đối với vua là người mình thọ ơn.

T uy vân, Thư-Nghê cũng đã khéo léo, nói lớn cho Triệu- Thuẩn nghe cốt ý cho Triệu- Thuẩn biết mà tránh họa. Đó là thêm một đức-tính của người ân-hậu vậy…» Để kết-luận đoạn 2, chúng tôi xin lập lại nguyên văn: Lấy Thiện mà trừ Ác. Lấy nhơn-nghĩa trừ bạo tàn. Lấy lòng quảng-đại đặng mở tâm-lý hẹp hòi. Lấy chánh trừ tà. Ấy là đường thương huệ kiếm. Vậy thiện, nhơn-nghĩa, lòng quảng-đại, chánh là phần thể của huệ kiếm.

Còn trừ ác, trừ bạo tàn, mở tâm lý hẹp hòi, trừ tà là phần dụng của huệ kiếm. Bốn câu có chữ “Lấy” đứng đầu là bốn chiêu thức hay bốn đường thương của huệ kiếm. Phương-pháp trị tâm gồm 9 điều-mục. Năm điều- mục trên thuộc về phần hàm dưỡng tâm-linh tức rèn huệ kiếm. Từ điều-mục « Lấy thiện trừ ác » trở xuống, tâm-linh đã trụ tức là huệ kiếm đã thành-hình mới dùng bốn chiêu thức sau cùng mà quét sạch tàn tích uẩn-trược.

ẤY LÀ ĐƯỜNG THƯƠNG HUỆ KIẾM

Huệ kiếm hay là gươm thần huệ là tượng trưng lợi khí sắc bén về tinh-thần, có năng-lực chặt lìa oan nghiệt, đoạn dứt trái oan, trị xảo trừ tà. Trong kinh sách ta thường nghe: ấy là đường thương huệ kiếm – Nương gươm thần huệ đoạn trừ nghiệt căn. – Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà – Nương gươm thần huệ vào bờ vĩnh-sanh. – Cầm gươm huệ chặt tan-tành cung thương. Gươm thần-huệ là huệ-trí, là sự sáng-suốt của tâm- linh.

Tâm-linh sáng-suốt mới phân biệt thiện ác, tà chánh. Có phân biệt được thiện ác, tà chánh mới có thể luyện kỷ tu thân, lấy thiện mà trừ ác, lấy chánh trừ tà, lấy thương yêu xóa bỏ hận thù. Những tánh của con người tạo nên 7 tình, hình thành 7 dây oan nghiệt, chỉ nhờ cái gươm, cái kéo vô hình mà cắt đứt được. Đó là gươm thần-huệ hay “đường thương huệ kiếm”. Chúng ta rèn luyện cho tâm được minh, tánh được thông suốt thì tâm tánh sẽ biến thành gươm thần-huệ, không còn là phàm nữa, tức là chúng ta sẽ đoạt được con đường siêu-thoát. luyện thân, luyện trí

LUYỆN THÂN, LUYỆN TRÍ

Trong đoạn trước , Đức Hộ-Pháp dạy về phương-pháp trị Tâm, là rèn luyện cái Tâm được ngay chánh, trong sạch, không để nhiểm bỡi thất- tình, lục-dục, gột bỏ những tánh hư tật xấu, để trở nên bậc chí Thánh, chí Hiền. Trong đoạn nầy, Đức Hộ-Pháp dạy luyện thân, luyện trí. Luyện Tâm chưa đủ, cần phải trau dồi cái thân và cái trí mới đủ yếu-tố cấu tạo nên một con người. Người có tam bữu là TINH, KHÍ, THẦN.

TINH thuộc về xác thân. (Đệ nhứt xác thân) KHÍ thuộc về trí não, tinh thần. (Đệ nhị xác thân) THẦN thuộc về linh-hồn. (Đệ tam xác thân) Cả ba món báu nầy hợp lại gọi là “Tam thể xác thân”, hay là tam bữu của loài người. Trong phương-pháp luyện thân, luyện trí, Đức Hộ- Pháp dạy: – Ẩm-thực tinh khiết. – Tư-tưởng tinh khiết. – Tín-ngưỡng mạnh-mẽ nơi Chí-Tôn và Phật-Mẫu. – Thương yêu vô tận. Ấy là chìa khóa mở cửa Bát-Quái-Đài tại thế nầy.    luyện thân, luyện trí

ẨM-THỰC TINH KHIẾT

Ẩm là uống, thực là ăn. Xác thân hữu-hình của con người sống được là nhờ ăn với uống, đó là khuôn luật tự nhiên của Đấng Tạo- Đoan. Sự sống của con người cũng giống như sự sống của muôn loài vạn-vật, có khác hơn là con người được Đức Chí- Tôn và Phật-Mẫu ban cho Chơn-Linh và Chơn- Thần để đủ ba món báu nói trên. Nếu biết trau luyện ba món báu nầy, thì bước được vào ngưỡng cửa Thần, Thánh, Tiên, Phật trong cảnh giới vô hình.

Xác thân là kỵ-vật của linh-hồn, là con ngựa của ta cỡi để đi trong một khoảng đường đời. Không có xác thân, linh-hồn không nơi nương tựa để lập công. Không có linh-hồn thì xác thân chỉ còn là xác thú như tất cả loài thú khác. Vậy chơn-linh muốn lập công phải nương nhờ xác thân. Xác thân có cường-tráng khoẻ mạnh thì mới sống lâu, dùng đặng lâu dài. Cho nên việc ăn uống là điều cần thiết, nhưng nếu ta ăn uống thiếu điều-độ, dùng món ăn thức uống không hạp với cơ thể, không đúng phép dưỡng-sinh, phải sanh ra bịnh tật và có hại cho tinh-thần. Ăn uống tinh-khiết không phải chỉ rửa sạch món ăn mới gọi là tinh-khiết.

Tinh-khiết có nghĩa thực-vật nào ăn vào không hại đến sức khỏe, uống vào không kích thích làm rối loạn tinh-thần. Những món ăn không phương hại đến sức khỏe phần nhiều như rau, đậu, khoai củ, trái cây… Còn những món ăn như cá, thịt các nhà phân-chất-học cho rằng thịt cá chứa nhiều chất độc, nếu ăn toàn thịt, người ta sẽ bị nhiểm độc, sinh ra nhiều chứng bịnh hiểm nghèo. Ngoài ẩm-thực tinh khiết ra, thịt còn làm hại cho tinh-thần, vì loài thú tiến hóa chậm, ta ăn thịt thú tức là mượn thịt thú làm thân xác mình, thì tránh không khỏi ảnh-hưởng thú-chất vốn hay sanh nóng nảy và nhiều dục-tính.

Trích lục Thánh-Giáo Đức Cao- Thượng-Phẩm ngày 9 tháng 12 Tân-Mão (1952) dạy về đệ nhứt xác thân: “… Nói về ảnh-hưởng tốt xấu của sự ăn chay và nhục- thực, thì nhục-thực phần nhiều trong các con vật hay có các vi-trùng, nếu ăn thịt thì những vi-trùng ấy trộn theo vi-tố mà phá hoại. Lại nữa, thịt là chất sanh hơi độc, vì vậy làm cho thân thể hóa ra mệt nhọc biếng nhác. Đó là cái hại cho thể xác.

Còn cái hại cho tinh-thần thì trong thịt đã chứa sẵn các thú-chất, do đó làm cho tinh-thần thường bị mê-muội, nhứt là cái hại cho đệ lục giác-quan. Đệ lục giác-quan là Thần.(1) Còn ăn chay thì khỏi bị vi-trùng phá-hoại và không bị hơi độc làm cho mệt nhọc. Thoảng như thảo-thực (ăn chay) mà nhuốm bịnh thì chỉ có nhịn đói, uống nước chín có chút đường sẽ lành mạnh. Còn như nhục-thực thì phải cần thuốc, bỡi vì hơi độc và vi-trùng phá hoại cơ thể.” (1) Mỗi Tôn-Giáo đều có danh-từ triết-học riêng biệt.

Đây là danh-từ triết-học của Đạo Cao-Đài. Những thức uống không hại sức khỏe như nước sông, nước mưa, nước giếng được lọc hoặc đun sôi. Những thức uống có hại sức khỏe như rượu trắng, các thứ rượu mạnh Âu Mỹ, không nên dùng quá độ. Rượu mạnh uống vào làm máu huyết vận-chuyển không điều-hòa, tinh-thần rối loạn, không còn biết phải trái, không biết sợ sệt và không việc gì không dám làm, luyện thân, luyện trí vì không còn tự-chủ được lấy mình.

(Xem trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển I có bài Thánh-Giáo của Đức Chí-Tôn về giới tửu.) Có một câu chuyện Á-Rập đời xưa như sau: «… Ngày kia, có một vị hung-thần hiện ra nói với anh nọ như vầy: “Số ngươi phải chết, song ta tha thứ cho ngươi nếu ngươi làm được một trong ba điều nầy: Giết cha ngươi, đánh chị ngươi, hay là ngươi uống rượu ”. Người đó mới nghĩ: “Giết người sanh ra mình sao nỡ, còn đánh chị mình sao đành, thôi thì uống rượu”.

Nào dè trong lúc uống rượu say, va giết ông cha rồi đánh luôn chị va.» Câu chuyện cho chúng ta thấy sự nguy-hiểm của rượu khi ta uống quá say và ghiền phải nó là như thế nào! Cho nên, muốn luyện thân, luyện trí, cần chú-trọng đến việc ăn uống. Các Tôn-Giáo khuyên người theo Đạo nên ăn chay và kiêng rượu (giới sát sanh và giới tửu). Nếu chay trường không được, nên giữ trai kỳ, đó là phương- pháp tập giảm bớt sát sanh thú vật và tiến lần đến việc luyện tánh tu tâm.

Đức Hộ-Pháp không buộc chúng ta ăn chay trường, nhưng với những vị nào muốn vào Tịnh- Thất thì trước đó sáu tháng phải trường-trai để có đủ thời giờ cho máu huyết được thay đổi, cơ thể được lọc-lượt cho hết chất thịt cá. Việc ăn chay và kiên rượu rất hệ-trọng, cho nên: “Ẩm-thực tinh-khiết ” là điều quan-yếu trong phương- pháp luyện trí, luyện thân. tư-tưởng tinh khiết

TƯ-TƯỞNG TINH KHIẾT

Tư-tưởng là sự suy nghĩ, tưởng đến một chuyện gì. Tư-tưởng ở trong đệ nhị xác thân, do trí ý phát sanh. Tư-tưởng là động cơ khuấy động lục-dục thất-tình chỗi dậy trong tiềm-thức của con người. Lục-dục là: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Sắc là mắt thấy sắc đẹp mà động. Thinh là tai nghe âm thanh mà mê. Hương là mủi hửi mùi thơm mà muốn. Vị là lưỡi nếm vị ngon mà thèm. Xúc là tay chơn thân thể biết cảm-giác nóng, lạnh.

Pháp là trí ý biết run cảm. Cái “Ý”, người ta tạm gọi là giác-quan thứ sáu, Phật- Giáo gọi là “Thức”, vì nó ở ngoài năm giác-quan ta trông thấy được như: tai, mắt, mủi… Tư-tưởng ở trong giác- quan thứ sáu hay là “ Thức”, hằng ngày diển-biến không ngừng. Khi ta ngồi một mình, ta cảm thấy tư-tưởng phóng nhanh, lao-chao, bận rộn như con bướm chuyền từ bông nọ đến bông kia. Vừa suy nghĩ chuyện nầy chưa xong bắt suy nghĩ chuyện khác, cứ như thế suốt ngày đêm, khi nào ngủ mới thôi.

Tư-tưởng sanh ra lời nói và hành-động. Tư-tưởng có tốt có xấu. Tư-tưởng tốt thì lời nói việc làm tốt, tư- tưởng xấu thì lời nói việc làm xấu. Ta không nên khinh thường, cho rằng tư-tưởng không đáng kể, mà chỉ biết có hành-động. Những người có huệ-nhản thấy được tư-tưởng diển-biến nhiều hình-dạng, màu sắc và có sức luyện thân, luyện trí mạnh, mau lẹ lạ thường. – Vì có hình-dạng cho nên tư-tưởng cũng yếu, cũng mạnh, cũng sống, cũng thác.

Nếu mình cứ tưởng mãi vào một việc thì hình tư-tưởng việc đó trưởng-thành và sống lâu, còn tư-tưởng một lần rồi bỏ qua thì hình tư-tưởng đó lần lần tiêu mất. Những tư-tưởng sống lâu có thể giúp ta hay là hại ta tùy theo tư-tưởng lành hay dữ. Nếu tư-tưởng lành thì giục ta làm việc thiện, tư-tưởng dữ thì giục làm ác. – Vì có màu sắc cho nên các Đấng Vô-Hình xem qua tư-tưởng biết ta toan tính những gì, không cần tra hỏi.

Thí dụ: Lòng Từ-Bi Bác-Ái thì tư-tưởng màu sáng chói, sự nóng giận sanh ra màu đỏ bầm, tánh ích-kỷ thì màu vàng sậm và tối, tánh nào thì có màu sắc của tánh đó. Trong một Đàn cúng, nếu mỗi người đều phát ra những tư-tưởng không tốt, thì bầu không khí nơi đó trở nên ô-trược đối với các Đấng Thiêng-Liêng, tức là Đàn không nghiêm, phải thất lễ. Còn trái lại, mỗi người định tâm cầu nguyện vào việc lành như: thương yêu, hòa thuận, thiên-hạ thái-bình, thì các luồng tư-tưởng sẽ hiệp thành sức mạnh và lẽ dĩ nhiên sẽ được kết-quả tốt. – Tư-tưởng có sức mạnh và di chuyển mau lẹ, cho nên các nhà thôi miên biết điều-khiển tư-tưởng mà sai khiến mọi việc theo ý muốn.

Các nhà chuyên khoa Pháp-môn tập trung tư-tưởng truyền từ-điển cho người bịnh ở cách xa cả mấy trăm cây số để trị hết bịnh. Đã nhận-thức được tác-dụng và sự lợi hại của tư- tưởng cho nên những vị tu tâm luyện tánh hằng giữ gìn tư-tưởng từng giờ từng phút, vì tư-tưởng tốt chẳng những có lợi cho bản thân mà còn giúp cho người khác chung tư-tưởng tinh khiết quanh mình biến đổi từ tánh xấu đến tánh tốt do nơi sự rung cảm của tư-tưởng tốt của mình, làm kích-thích cái trí của người kia trở thành tư-tưởng thanh cao như vậy.

Trái lại, tư-tưởng xấu của ta bay đi, xúi người khác làm quấy do sự run cảm tư-tưởng của ta đồng bản tánh với người đó. Ngoài ra, tư-tưởng xấu như tánh ích-kỷ, sự thù hằn, lòng đố kỵ v.v… làm mờ tối lý-trí gây ra những thành-kiến đối với người khác chỉ vì nhận-định người khác không đúng, chẳng khác nào ta đeo kính màu mà xem đồ vật thì màu xanh thấy đen vậy. Tóm lại, tư-tưởng quấy có ba điều hại: a.– Ta làm cái trí trở nên xấu là ta hại ta trước đã. b.– Ta hại những người ở chung quanh ta. c.– Ta thêm sự khổ cho đời do ảnh-hưởng xấu của tư-tưởng ta.

Muốn giữ tư-tưởng được tinh-khiết phải làm chủ được tư-tưởng, định tâm định trí hướng-dẫn tư-tưởng theo điều lành điều phải, bằng không thì sự phóng-túng của tư-tưởng kéo lôi theo phàm tánh, tạo nguyên-nhân tội lỗi mà chính ta vô tình không hay, không biết.

PHẦN PHỤ: LUẬT PHẢN-KÍCH (LOI DU CHOC EN RETOUR)

Nếu tư-tưởng hung ác xông vào một cái hào-quang thanh bạch (đệ nhị xác thân của người hiền-đức) thì nó bị di trở lại rất mạnh. Khi di ra nó phải tìm con đường nào phù hạp với nó, mà con đường phù hạp là con đường của nó mới đi đó. Như thế nó sẽ di trở lại cho con người làm ra tư-tưởng luyện thân, luyện trí hung ác, đó là “Luật Phản-Kích”. Cái ác mà trước kia va muốn gây cho người nay chính va phải mang lấy.

Cho nên nói rằng: “Làm ác thì gặp ác, làm lành thì gặp lành” là vậy. Đối với một người hiền-lương và tấn-hóa cao mà ta lại có ý muốn hảm hại thì chẳng khác nào ta sắp trở giáo đâm ta vậy. Những hình tư-tưởng hung tợn khi đến hào- quang(1) của người kia, chẳng những không làm được một mảy may thiệt hại gì mà nó còn di trở lại cho ta để phạt ta đau khổ về Thân, Tâm và Trí một lượt.

(Rút trong quyển «Cái trí» của ông Bạch-Liên) – Đó là: « Lấy Thiện trừ Ác, lấy Tốt trừ Xấu» rất hiệu-nghiệm như đoạn trước «Phương Luyện-Kỷ» đã dạy. (1) Hào-quang: Mỗi người đều có hào-quang hoặc ít hoặc nhiều, hoặc tốt hoặc xấu do cái Vía và cái Phách chiếu ra.

TÍN-NGƯỠNG MẠNH MẼ NƠI CHÍ-TÔN VÀ PHẬT-MẪU

Tín là tin, không nghi-ngờ điều chi cả. Ngưỡng là ngẫng mặt nhìn lên – kính mến. Tín-ngưỡng (Foi, Croyance) là lòng tin-tưởng chơn thật một cách kính mến đối với các Đấng Thiêng-Liêng, các bậc cao siêu. (Xin xem phần giải-thích về “Đức Tin” nơi Đoạn 2 trang 20). Chí- Tôn và Phật-Mẫu là ai? Tại sao chúng ta tín-ngưỡng mạnh mẽ nơi hai Đấng? Đ ứ c Ch í-Tôn: Hán-văn viết Ngọc-Hoàng Thượng- Đế, người Việt-Nam thường gọi là Ông Trời, Âu Mỹ gọi là Dieu, dân cổ Do- Thái (Hebreux) gọi Jéhovah… v.v… tín-ngưỡng mạnh mẽ nơi chí-tôn và phật-mẫu là Đấng Tạo-Đoan cả Càn-Khôn Vũ- Trụ, làm chủ phần Dương, là Ngôi Thứ Nhứt (Premier Logos), Chúa Tể cả muôn loài vạn-vật.

Quyền hành Đức Chí- Tôn đã tả trong bài «Ngọc-Hoàng Kinh». Đức Phật-Mẫu: Hán-tự viết Thiên-Hậu Chí- Tôn (Bà Vua Trời), người Á-đông nhứt là Trung-Hoa và Việt-Nam gọi là Bà Mẹ Sanh của con người, của cả muôn loài vạn-vật trong Càn-Khôn Võ- Trụ, làm chủ phần Âm, là Ngôi Thứ Hai (Deuxième Logos), kế Đức Chí- Tôn. Quyền-hành và diệu-pháp của Đức Phật-Mẫu đã tả trong bài «Phật-Mẫu Chơn-Kinh», Đức Hộ-Pháp có giải-thích trên giảng đài Đền Thờ Phật-Mẫu nhơn ngày Vía Phật-Mẫu năm Đinh- Hợi (1947).

Đối với Đức Chí-Tôn và Đức Phật-Mẫu, chúng ta phải đặt cả sự tin-tưởng chân thành, nên đem cả thể xác lẫn tâm hồn làm tế-vật hiến dâng cho hai Đấng xử dụng. Vì cả thân thể, trí não, tâm hồn chúng ta đều do hai Đấng Tạo-Hóa tạo nên. Hai Đấng Tối Cao là Toàn-Linh, Toàn- Tri, Toàn-Năng, Quyền-Pháp vô đối, Huyền-Diệu vô biên, Ái-Yêu vô tận, nên chúng ta để trọn đức-tin một cách mãnh liệt, đặt hết tinh-thần noi theo gương của Người, hy-sinh, phụng-sự, thực-thi Chơn-Pháp Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Đặt trọn Đức-Tin vào hai Đấng thì tâm hồn chúng ta không còn mãnh-lực nào chi phối, dẫn-dắt. Năng-lực Đức-Tin giúp ta thành công trên đường đời bao nhiêu thì năng-lực đó đối với Đức Chí-Tôn và Đức Phật-Mẫu là Đấng Tự-Hữu Hằng-Hữu sẽ ban cho chúng ta nhiều ân-huệ phi thường để thành công trong nghiệp Đạo bấy nhiêu. Ấy vậy, «Tín-ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí-Tôn và Phật- Mẫu» là nguyên động-lực giúp ta đi đến thành công luyện thân, luyện trí trên con đường T u Thân Luyện Kỷ.

Đó là bí-quyết đoạt Đạo-Pháp vô biên.

THƯƠNG YÊU VÔ TẬN. ẤY LÀ CHÌA KHÓA MỞ CỬA BÁT-QUÁI-ĐÀI TAỊ THẾ NẦY.

Thương yêu vô tận, tức là thể hiện lòng Từ-Bi, Bác-Ái. Bác-Ái là lòng thương rộng rãi, xuất phát nơi lòng Nhân, bao la vô cùng tận. Đức Thượng-Đế là Đấng háo sanh muôn vật, nên gọi là Đấng Tạo-Đoan, là hình tướng của khối thương yêu bao trùm cả Càn-Khôn Thế-Giới. Bao nhiêu tinh đẩu, bao nhiêu giải Ngân-Hà của vũ-trụ bao la kia nếu ta đếm không nỗi, tính không hết, thì lòng thương của Đức Đại- Từ-Phụ và Đại- Từ-Mẫu cũng rộng lớn vô biên mà trí phàm không hạn định được.

Thu hẹp lại trong cảnh giới chúng ta đang ở, chỉ là một hột cát trong sa-mạc, nơi nào có sự hóa sanh của vạn- vật hữu-hình thì sự thương yêu của Đức Chí- Tôn tới đó. Chúng ta cũng là một thực-thể, một sức sống hữu linh thì lẽ đương nhiên chúng ta đã thụ hưởng một di-sản «THƯƠNG YÊU» của Tạo-Hóa. Đã là vật hữu linh trong Trời-Đất, con người cũng phải đồng tánh cùng Trời-Đất, phải nuôi dưỡng tánh “Thương yêu” mới hòa đồng cùng Trời-Đất.

Nghịch lại với tánh thương yêu là nghịch với cơ sanh hóa, là tự diệt. Vì vậy, trong Thánh-Ngôn, Đức Chí- Tôn có dạy: «Các con là cơ-thể của sự thương yêu mà các con không hiểu sự thương yêu là gì? Sự thương yêu là giềng bảo sanh thương yêu vô tận. ấy là chìa khóa mở cửa bát-quái-đài taị thế nầy của Càn-Khôn Thế-Giái. Có thương yêu, nhơn loại mới hòa-bình, càn-khôn mới an-tịnh. Đặng an-tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hóa.

Còn nghịch với cơ sanh hóa là Quỉ-Vương, Quỉ-Vương là tay diệt hóa. Vậy Thầy cấm các con từ đây nếu không đủ sức thương yêu thì cũng chẳng đặng ghét nhau nghe à!» Rồi Đức Chí- Tôn còn dạy: “Thầy chỉ một lòng mơ ước cho các con biết thương yêu nhau trong Thánh-đức của Thầy. Sự thương yêu là chìa khóa mở Tam Thập Lục Thiên, Cực-Lạc Thế-Giới và Bạch-Ngọc-Kinh.”

CHƠN-TƯỚNG CỦA SỰ THƯƠNG YÊU

Về chơn-tướng của sự thương yêu, Đức Hộ-Pháp có giảng như sau: «Từ buổi sơ khai, Đức Chí-Tôn lập ra một Chơn- Luật, buộc cả nhơn-loại phải thi hành tức là một con đường “Thiên-Linh” của Chí-Tôn đào tạo để cho nhơn-sanh do theo con đường ấy mà tiến-hóa lên đến các bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật. Hễ tấn-bộ thì đoạt Đạo, còn thối bộ thì sa ngã theo tà-quái. Luật-pháp của các nhà Tôn-Giáo xưa nay lập ra nhiều khoản, nhơn-sanh người thông-minh thì ít, kẻ dốt nát là phần đông nên không thế thi-hành cho trọn.

Còn Chơn-Luật của Đức Chí-Tôn chẳng có nhiều, duy cần yếu hai chữ “Thương Yêu” mà thôi, thì nhơn-sanh dầu hạng nào cũng có thể thi-hành được tất cả. Đến như loài tế-vi là mối, ong, kiến cũng biết giữ luật Thương Yêu, thuận-hòa cùng nhau kết dây đoàn-thể, tương-thân tương-ái với nhau tạo thành hang ổ có trật-tự luyện thân, luyện trí phân minh, ấy là cơ tấn-hóa mạnh mẽ của loài động-vật.

Nói về gia-đình thì có cha, con, chồng, vợ, anh, em lan tràn ra cho tới nhơn-quần xã-hi, đồng-chủng quốc-dân cũng do nơi mặt luật Thương Yêu mà được hòa- bình, an cư lạc-nghiệp. Nếu cả thảy chẳng thật-hành y theo Chơn-Luật ấy thì tức nhiên mất sự điều-hòa, đã chẳng đặng tấn-hóa đến cảnh Thiêng-Liêng mà trái lại nảy sanh ra một trường tranh cạnh thù nghịch lẫn nhau, tức là tạo thành cơ tự-diệt.

Sự thương yêu của Đức Chí-Tôn đối với nhơn-loại vô lượng vô biên, không có giới-hạn nào mà tả ra cho cùng tận được. Ví như một gia-đình phận làm cha mẹ thấy một bầy con nghèo nàn khổ não thì biết rằng cha mẹ thương con là thể nào. Còn trong thế-giới từ vật-chất côn trùng, thảo mộc, thú cầm cho tới nhơn-loại đều là con chung của Đấng Tạo- Hóa thì sự thương yêu của Đức Chí-Tôn bao la quảng-đại chẳng biết tới đâu là bờ bến.

Những sự bi ai thống-khổ của chúng-sanh ở cõi trần nầy bao nhiêu, thì sự thương-tâm đau đớn của Đức Chí-Tôn cũng bao nhiêu. Chơn-Luật Thương Yêu của Thầy lập ra, nhơn-sanh chưa thi-hành thì mặt luật ấy đã buộc Thầy thực-hành trước hết. Nên Thầy giáng cơ nói rằng: “Sự khổ hạnh của các con chưa than, thì Thầy đã than trước. Các con chưa khóc thì Thầy đã khóc rồi. ” Ngày nào toàn cả nhơn-sanh biết thật-hành chủ-nghĩa Thương Yêu cho ra chơn tướng thì tức nhiên là ngày của nhơn-sanh thoát khổ.» Tóm lại: Con người cùng vạn-vật đều do nơi luật Thương Yêu mà tiến-hóa lên đến các bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, hiệp một cùng Đức Chí- Tôn gọi là cơ đoạt Đạo. thương yêu vô tận. ấy là chìa khóa mở cửa bát-quái-đài taị thế nầy “Thương Yêu là chìa khóa mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh”.

LÀM THẾ NÀO THỰC-HIỆN SỰ THƯƠNG YÊU?

Vẫn biết mặt luật Thương Yêu là như thế nào rồi, danh-từ Thương Yêu ai cũng biết nói nhưng khó thật-hành cho ra chơn-tướng. Thử nghĩ: Anh em trong gia-đình bất hòa là do đâu? – Là do không biết thương yêu với tình cốt-nhục. Vợ chồng gây gỗ, chia rẽ nhau là do đâu? – Là do không còn giữ sự thương yêu như buổi ban đầu. Anh em bậu bạn bất hòa, xích-mích, thù nghịch là do đâu? – Là do thiếu sự thương yêu.

Một đoàn-thể rối loạn, hàng ngũ ly tán là do đâu? – Là do thiếu sự đoàn-kết thương yêu. Nhơn-loại bất hòa, sát hại lẫn nhau, sanh ra chiến-tranh là do đâu? – Là do đã mất sự thương yêu trong tình đồng-loại. Sự thương yêu xuất phát nơi lòng nhân, thương người mến vật, khoan-dung rộng lượng trước sự sơ-sót, lỗi-lầm của người. Biết đau đớn khi thấy cái khổ của người. Biết gây cảm tình trước nghịch cảnh.

Biết động lòng trắc-ẩn trước cảnh-trạng bi-đát thương tâm của người. Thương yêu đối với một người mà ta kính, ta mến, ta ưa thì rất dễ. Trái lại, thương yêu người đang ghét ta, đang thù ta mới là khó, nhưng khó mà làm đặng mới đáng quí, mới phi thường. Trong Kinh Thánh, Đức Chúa Jésus Christ có dạy: “Hãy thương yêu kẻ thù nghịch mình. Làm lành cho kẻ ghen ghét mình. Chúc phước cho người nguyền rủa mình.

Cầu nguyện cho kẻ lăng mạ mình. Ai vả má ngươi bên nây, hãy đưa luôn má bên kia. luyện thân, luyện trí Nếu các ngươi thương yêu kẻ thương mình thì có ơn chi? Vì ai ai cũng thương yêu kẻ thương yêu mình. Nếu các ngươi làm lành cho kẻ làm lành với mình thì có ơn chi? Vì ai ai cũng làm như vậy được.” Đức Hộ-Pháp cũng đã dạy: «Chúng ta thương yêu bà con thân thuộc là kiếm xu và bạc cắc.

Thương rộng ra nhơn-quần xã-hội là kiếm bạc đồng bạc chục. Thương cho được kẻ thù của mình là kiếm vàng khối đó vậy.» Nếu chúng ta thật hành được sự thương yêu tức là chúng ta đã đạt được Chơn Luật của Đức Chí- Tôn, là bí-quyết của cơ đắc Đạo. Đó là “Chìa khóa mở cửa Bát- Quái-Đài tại thế” nầy vậy.

CHUNG

Tài-liệu này do Đạo-Hữu Đỗ Văn Thắng đánh máy lại y nguyên bản chánh.