Q.I · Bài 47–49 · Kỷ Tỵ
Ngày 10-04-1929 ( âl. 01-03-Kỷ Tỵ): Đức Thượng Phẩm Đăng Tiên
ĐỨC Thượng Phẩm Đăng Tiên Ngày 01 tháng 03 Kỷ Tỵ (1929) 11 giờ trưa, Đức Thượng Phẩm cho mời Đức Hộ Pháp, cùng ông Bảo Văn Pháp Quân, bà Giáo Sư Hương Hiếu, Giáo Hữu Thượng Trí Thanh, Giáo Hữu Thượng Kỳ Thanh, Lễ Sanh Thượng Ngươn Thanh. Đức Thượng Phẩm nhìn Đức Hộ Pháp trối rằng: Nay Qua về chầu Đức Chí Tôn, em ở lại hiệp với Chức Sắc chung lo nền Đạo của Thầy cho được vẹn toàn mọi sự.
Anh dầu có nhắm mắt thì sự mất cũng như còn. Nói rồi tuôn hai hàng nước mắt, kế day qua nói với bạn thân của Ngài căn dặn để trọn tâm lo tròn phận sự; nói dứt lời thì Ngài xuất linh hồn êm ái, gương mặt cũng như người đương ngủ. Có một điều phi thường là lời trối Ngài nói có hàng có chấm cũng như lúc mạnh khỏe. Cả Chức Sắc có mặt đều cảm động ngùi ngùi thương tiếc. Khi Ngài dứt hơi thì đỡ ngồi dậy thúc xác ngồi kiết tường trước mặt lập bàn hương án chưng bông hoa trà quả.
Đức Hộ Pháp ra kiểu cho thợ mộc đóng Liên Đài hình Bát Quái; thời Tý 12 giờ đại liệm, rồi thành phục tế lễ theo nghi tiết. Hội Thánh thông tri cho toàn Đạo các tỉnh đều hay đặng hành lễ cầu nguyện cho Đức Thượng Phẩm được tiêu diêu nơi miền Tiên cảnh. Quàn tại Thảo Xá 3 ngày, Chức Sắc và Đạo Hữu nam nữ điếu tế rất đông. Chức Sắc Hiệp Thiên Đài cầu cơ bút, Đức Thượng Phẩm giáng cơ tỏ vẻ vui mừng, được về bái mạng Đức Chí Tôn cùng Phật Mẫu nơi Bạch Ngọc Kinh và Diêu Trì Cung, đều ban ơn công nghiệp buổi khai Đạo tròn sứ mạng, Ngài tiếp cho một bài thi tứ tuyệt:
Thi
Cao thanh miệng thế mặc chê khen, Thượng trí màng chi tiếng thấp hèn. Phẩm cũ ngôi xưa dầu rõ giá, Từ bi tập tánh được thường quen.
Ngài tỏ vẻ vui mừng nay đã thoát khỏi biển trần, về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống. Ngày 3 tháng 3 Kỷ Tỵ (1929) Hội Thánh rước Liên Đài về Tòa Thánh, sự sắp đặt thứ tự theo chương trình dưới đây: 1/. Tấm bảng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, kế tiếp là phướn Thượng Phẩm. 2/. Bàn Hương án để Bửu Ảnh có dàn hầu, lổ bộ và các tràng hoa. 3/. Nhạc Ta, nhạc Tây, nhạc Tiều, nhạc Thổ. 4/. Bàn đưa, phúng, vãng, trên một trăm tấm tiếp theo đồng nhi đọc kinh đưa. 5/.
Thuyền Bát Nhã chở Liên Đài tiếp sau tang gia hiếu quyến. 6/. Chức Sắc Hiệp Thiên Đài: Hộ Pháp, Thượng Sanh, cùng Thập Nhị Thời Quân, kế tiếp Chức Sắc Cửu Trùng Đài Nam Nữ và Chức Việc, Đạo Hữu, đi đầu vào đến Đền Thánh mà đoạn chót còn ở tại Thảo Xá, đường dài 4.000 thước. Cuộc rước Liên Đài rất tôn nghiêm long trọng. Khi thuyền Bát Nhã đến Tòa Thánh, di Liên Đài vào Bửu Điện an vị nơi phẩm trật của Hiệp Thiên Đài.
Đêm mùng 3 hành lễ Đức Chí Tôn, dâng sớ cầu nguyện Ơn Trên ban ân huệ cho chơn linh Đức Thượng Phẩm tiêu diêu cõi thọ. Ngày mùng 4 tháng 3 Kỷ Tỵ: Chức Sắc và toàn Đạo các Tỉnh tế lễ phúng điếu rất đông đảo, cùng thân bằng cố hữu phúng điếu, quàn Liên Đài tại Bửu Điện tế lễ cầu siêu.... Tới ngày mùng 8 tháng 3, sớm mai 8 giờ, di Liên Đài lên thuyền Bát Nhã đưa ra Bửu Tháp. Chức Sắc Hiệp Thiên Đài đọc ai điếu; Cửu Trùng Đài Đức Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đọc ai điếu, trạng tỏ công nghiệp hành Đạo của Đức Thượng Phẩm trong buổi sơ khai, đủ nghị lực tinh thần đối phó với quyền đời, nào là ngăn cấm áp chế không muốn cho mở mang căn bản nguồn cội của Đại Đạo nơi vùng Thánh Địa.
Bà Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh, thay mặt cho Nữ phái đọc ai điếu tỏ lòng mến tiếc Ngài vội đăng Tiên, Hiệp Thiên Đài thiếu người phò loan đủ huyền diệu. Khi đọc ai điếu xong, Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu nam nữ thành tâm kĩnh lễ cầu nguyện cho Đức Thượng Phẩm được siêu thăng Tiên cảnh. Cuộc lễ long trọng an bài. Thợ hồ lo xây Tháp cho Ngài, có gắn cẩm thạch mạ chữ vàng nơi Bửu Tháp Bát Giác; sau lưng có khắc bài kỷ niệm để tỏ dấu cảm hoài và roi truyền hậu thế.
Sau đấy Đức Cao Thượng Phẩm có giáng cho hai bài thi khi di Liên Đài ra Bửu Tháp:
Xủ áo trần hoàn đã rảnh tay, Thung dung nhờ núp bóng Cao Đài. Rừng tòng nhựt rọi khi mờ tỏ, Sớm lạc trăng lồng kẻ tỉnh say.
Phi thị mặc đời nơi quán tục, An nhàn rảnh dạ khách Thiên Thai. Ngậm cười nêu quạt chờ sanh chúng, Biển khổ ngày qua đếm một ngày.
Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn tràng, Cõi Thiên mừng đặng dứt giây oan. Nợ trần đã phủi lòng son sắt, Ngôi vị nay vinh nghĩa đá vàng. Cỗi tấm chơn thành lòa nhựt nguyệt, Phơi gan chí sĩ nhuộm giang san. Bốn mươi hai tuổi sanh chưa phỉ, Để mắt xanh coi nước khải hoàn. Phụ ghi: Bản Chánh in là... Liên Đài ra Bửu Pháp,
chúng tôi nghỉ là... Liên Đài ra Bửu Tháp đúng nghĩa hơn.
Bia Kỷ Niệm Đức Cao Sĩ Thượng Phẩm (Cao Quỳnh Cư)
Ngày mùng 1 tháng 3 năm Kỷ Tỵ (1929) Đại Đạo - Năm thứ tư Bia KỶ Niệm ĐỨC Cao Sĩ Thượng Phẩm (Cao Quỳnh CƯ) Cao Quân người Nam Kỳ, xuất thân tại tỉnh Tây Ninh, nối dòng trâm anh, vốn nhà thi lễ, phẩm hạnh mực thước, tánh chất siêng năng, học hỏi thông minh, thành danh khi tuổi trẻ. Lúc ở thế xử tròn Nhơn Đạo, mãng ra vào trong bể hoạn rừng danh, hơn mười năm dư đã an phận sự. Vừa may gặp hội Long Huê hoằng khai Đại Đạo khiến cho Cao Quân hiệp cùng lương hữu tập phò cơ chấp bút cầu Tiên Phật giáng đàn hầu ngâm thi vịnh phú.
May thay! Nhờ lượng từ bi xuống tay tế độ, dùng chơn thần thanh bạch, cầm bút chấp cơ, dạy chúng sanh qui chánh cải tà, khuyên tu niệm thoát vòng mạt kiếp. Bởi Đấng Chí Tôn giáng thế xưng danh hiệu Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương. Vậy nên Cao Quân hiệp cùng chư Đạo Hữu phụng thừa Thiên mạng khắp miền Hậu Giang phổ độ chúng sanh, nền Đại Đạo mới gây nên từ đó.
Ngày Rằm tháng 3 năm Bính Dần Đức Chí Tôn phong Cao Quân là Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ. Đến Rằm tháng 10 năm ấy, Đức Chí Tôn lại gia phong Cao Quân chức Thượng Phẩm trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Khôn xiết kể công lao của Cao Quân đã lo dìu dắt chúng sanh còn phải vun trồng nền Đạo giữ tròn phận sự, mưa nắng chẳng nài, lo Đạo không nhàm, tuyết sương chẳng quản. Ô hô! Thiên cơ tiền định người dễ thấu đâu, những ngỡ tay rường cột sum vầy cùng bạn tác, chung lo đắp nền Đạo giữa trời Nam, nào hay đâu số mạng bốn tuần dư dâng Thánh chỉ trở về Kinh Bạch Ngọc.
Thương thay! Tiếc thay! Song nghĩ lại, tuy thể phách tách rời trần thế mà tinh thần còn lai láng như xưa, muôn năm theo độ rỗi chúng sanh, ngàn thuở vẫn mặc phò Đại Đạo. Ôi! Nhớ tiếng thốt giọng cười khôn vùi mạch thảm nghĩ công lao sự khổ khó lấp cơn sầu. Sanh chúng ghi tạc dạ ơn sâu, đồng một dạ khắc mấy câu kỷ niệm. Ngày 1 tháng 3 năm Kỷ T ỵ (1929) Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài Chư Đạo Hữu đồng kỷ niệm.
Văn Tế Tiểu Sử Cao Thượng Phẩm của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài
VĂ N T Ế (Điệu văn Lưu Thủy) Tiểu Sử Cao Thượng Phẩm Than ôi! Miền Đông Á từ thời Bàn Cổ, xưa đã bao phen Đạo Thánh dẫn nhơn sanh. Đất Việt Nam khai những thuở Hồng Bàng, nay mới gặp lúc thuyền linh đưa bến khổ. Cho hay rằng: Sanh là ký, tử lại là qui, nhưng phải biết mạng tuy yểu, mà danh ấy thọ. Nhớ Cao Thượng Phẩm xưa, tư chất ôn lương, tánh tình hòa hưỡn, nhà phiệt duyệt lưu truyền nơi thế thượng, tỉnh Tây Ninh lớn nhỏ thảy đều thương.
Trí thông minh còn roi dấu thơ hương, miền Bến Nghé trẻ già nào chẳng rõ. Trải mấy mươi năm cùng thế sự, chí nam nhi đủ sức vẫy vùng. Quanh theo lối trong gia, phần em trẻ nhiều lời khuyên nhủ. Cùng lân lý hay thương người thất thủ, hằng ra tay tế độ bạc tiền. Với mẹ cha thường để tấc lòng thành, gắng hết sức đền ơn nhủ bộ. Đạo Thánh mở phú một tay truyền bá, lãnh mạng Trời bố hóa khắp hoàn cầu.
Giọt sương gieo vì trăm họ khát khao, vưng Thánh chỉ rưới ban ân võ lộ, hiến thân cho Đạo son sắc một lòng, nương bút thủ cơ tuyết sương mấy độ, đã nhiều cơn tân khổ chẳng quản đến tình nhà, dìu sanh linh từ thành thị chí thôn quê, dư mấy lúc gian truân, lần lừa theo mạch Đạo, dẫn bầu bạn vạch đường về cội cũ. T oàn trong sáu tỉnh để tiếng ngợi khen, khắp cả muôn dân riêng phổ độ.
Trước từng trải Biên Hòa, Sài Gòn, Gia Định, mới lần qua cửa Tiểu, đã mấy buổi nắng mưa cam chịu, Đấng Tạo Đoan soi tỏ rõ tấm kiên trinh, rồi lại từ Mỹ Tho, Sa Đéc, Long Hồ, mà thẳng tới Bạc Liêu, biết bao phen sương tuyết dãi dầu, ơn Thượng Phẩm đáng ghi vào nơi phế phủ. Phần du Tiên gẫm cũng tại Thiên cơ, người khuất bóng thiếu tay rường trụ. Nhớ những khi: Vun trồng cội Đạo, lấy chí trượng phu, tẩy sạch lâm tuyền, dựng Tòa Thánh tổ, lo xây nền lập Điện, đem hết lòng tu bổ, trót mấy thu từng trải mảnh hình hài, lo trẩy gốc ven đường, dâng trọn tấm nhiệt thành, bao nhiêu tuổi đủ đền ơn thủy thổ.
Hỡi ôi!!! Chuông reo cảnh hạc, bóng khuất non Tây, khách giục rừng tòng, người về quê cũ, thương vì đoàn thê tử, mẹ Nam con Bắc, vợ dựa cửa trông chồng, xem càng chạnh nỗi, dầu lòng thương ôm chịu chớ biết sao! Ngảnh lại, bóng tang du cha khuất, mẹ còn già ngồi lên khóc trẻ, nghĩ cũng lạ thường, thất chữ hiếu phải cam là vậy đó. Nhưng... nhưng cũng nghĩ rằng tình chồng vợ cũng đủ dạ yêu thương, nghĩa mẹ con cũng đã dày công báo bổ...
Bởi vậy cho nên: Vì công lao khổ, ơn huệ thưởng ban, hứng cảnh tiêu diêu, sắc son đã rõ. Miền Cực Lạc xin hương hồn Cao Thượng Phẩm chứng lòng đơn cho các bạn tại tiền, trước Linh Tòa cả Chức Sắc Hiệp Thiên, dâng Tam Bửu ngỏ đền ơn tri ngộ. Ngày 8-3-1929 Chức Sắc Hiệp Thiên Đài