Q.I · Bài 60–64 · Bính Dần

Ngày 25-02-1926 (âl. 13-01-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy cách lạy

Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm Sài Gòn, Vendredi 25 Février 1926 (13-01-Bính Dần) (Tại nhà Đức Cao Thượng Phẩm, đường Bourdais số 134). Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại BỒ Tát MA Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương Trung vô giữa bái lễ lạy Thầy coi.... Con làm lễ trúng, song mỗi gật con nhớ niệm câu chú của Thầy: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Trung bạch hỏi: Đại lễ là sao? Thầy dạy: Đại lễ là làm lễ ba lần. Lần đầu tiên dâng hương và dâng hoa. Lần giữa dâng rượu. Lần chót dâng trà.

Phải chính mình con dâng các lễ ấy, khi bái lễ hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên. Từ đây con phải may riêng bộ áo lễ tay rộng, cổ trịch như áo Đạo, nhưng dải gài chín mối, màu xanh da trời; khăn xanh chín lớp màu da trời. Sau Thầy sẽ lại thêm nữa, nghe và tuân theo. Con mang giày gai hầu Thầy, còn nhứt nhứt đều để chơn không.

Trung, con lạy quá hơn hai đứa bé nầy há! Trung bạch:... Thầy nói: Phải vậy chớ nó đọc ở dưới cho ai nghe. Trung bạch: (Hỏi về Thiên phục) Còn đồ sắc phục con duy để làm lễ cho Thầy mà thôi, nếu con bận nó đến nơi nào, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều phải tránh hết. Giải nghĩa: Ở nhà Đức Cao Thượng Phẩm mỗi ngày đêm, Đức Chí Tôn giáng dạy Đạo. Lúc nọ Thầy sai ba ông đi trọn một tuần lễ, để tôi ở nhà nhớ Thầy buồn quá, Tôi cúng thời chiều, ngước lên Thiên Bàn khóc mà nói rằng: Con biết Thầy có ngự trên Thiên Bàn, nhưng Thầy vắng một tuần rồi, con không thấy lời Thầy dạy, con nhớ quá.

Chiều chúa nhựt ba ông về, tôi thắp đèn nhang cầu Thầy, Thầy giáng nói với tôi như vầy:

Hiếu muốn cầu Thầy hơn ai hết. Trước vốn yêu, Nay cũng yêu, Con gái út, Có bao nhiêu, Khuyên con lòng vậy mãi, Cái mến con thương Thầy đều.

Trung, con mặc thử đồ Đại phục mới may rồi cho Thầy xem... Trung, con coi đẹp quá há! Hiếu sửa mấy cái dải như Cư nói. Bình thân Trung. Còn một nửa, ba con sắm sửa rồi Thầy sai đi đòi nó đến. Cư bạch Thầy: Thái Đầu Sư ở nơi nào? - Đừng hỏi con. Trung, nội Rằm tháng tới đây, con phải nhóm Đại Hội đòi luôn phái Ngọc đến đặng thọ Thiên tước nghe. Còn thiếu thảo hài, sắm cho đủ nghe.

Hiếu chịu cực may bộ Hồng Y Thiên phục nữa cho kịp ngày Rằm nghe.

Tháng 04-1926 (âl. 03-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy may Thiên phục

Avril 1926 Thầy Trung, Cư, Tắc ba con lập tức lên Chiêu biểu nó phải sắm sửa liền một bộ Thiên phục màu trắng. Trên đầu chẳng phải bịt khăn mà đội mão trắng có chữ Càn thêu bằng chữ vàng. Dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt, mão cũng vậy, áo cũng vậy. Hiếu lại phải nhọc công nữa, Thầy giao phần may sắm cho con. Con liệu cho kịp, Rằm phải có nghe con. Hiếu lấy chén nước lạnh, Thầy vẽ kiểu mão cho con coi.

Mme Cư bạch Thầy.... Mão nầy là mão Giáo Tông. Trước ngực ngay trán phải để chữ cung Càn - chữ vàng, chữ Bát Quái - Còn cái áo con phải tái cầu Thầy trong lúc may đặng Thầy chỉ sắp mấy cung kia trên áo. Nghe và tuân theo nghe con. Trung, đêm nay đừng cầu Thầy nghe con.

Ngày 18-04-1926 (âl. 07-03-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy may Thiên phục

18 Avril 1926 Mừng sắp con, Hiếu quì bạch Thầy chỉ dạy may mão Đức Giáo Tông bề cao bao nhiêu và mang giày thứ nào? Thầy sẽ nhứt định mọi việc. Thầy dạy: Mão bề cao ba tấc, ba phân, ba ly thước Lang Sa; may giáp mối lại thì thế nào cho có trước một ngạnh, sau một ngạnh hiệp lại có một đường xếp ấy là Âm Dương tương hiệp, Hiếu biết mà. Sợi dây xếp hai lại còn bên trái có hai dải thòng xuống một mí dài một mí vắn, mí dài ba tấc.

Giáo Tôngthảo hài. Tái cầu: Ngày 19 Avril 1926 ( Nhà ông Cao Quỳnh Cư). Có tạo đỡ một cái mão bằng giấy dưng lên cho Thầy xem. Cười.... Đặng phải vậy, ba con bưng lên cho Thầy chỉ hai mí giáp mối, con coi theo cây viết mà làm theo. Ngày 19 Avril 1926 - Mitresợi dây viền ăn liền hai bên, chớ đừng cắt rời ra nghe con. Con giỏi lắm, Hiếu. Hai dải thòng xuống vai ba tấc bề dài, ba phân bề ngang, phải vậy rồi.

Cư để cho Hiếu nó làm (là để cho Hiếu may mão Giáo Tông). Cư con phải mua giấy vàng cắt miếng bề ngang ba phân, bề dài 9 phân, chấp bút bằng nhang, đặng Thầy họa phù cho thân tộc mỗi Môn Đệ một người một lá bùa đốt vái Thầy bỏ vô tô nước lạnh mà uống, nghe và tuân theo. (Về vụ bệnh thiên thời) Mừng chư Môn đệ. Dạy Cư chấp bút như Thầy đã dặn. Chư Môn đệ biết sợ há! Ta khen đó. Trung bạch Thầy: Được phép dùng bùa mà cứu chúng sanh chăng? – Nội gia quyến của Môn Đệ; phải để luật thưởng phạt theo lẽ công bình của Trời Đất mới phải chớ, các con.

Ngày 22 -04-1926 (âl. 11-03-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy sắp đặt ngày Thiên Phong và may Thiên phục

Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm Ngày 22 tháng 04 năm 1926 (11-3-Bính Dần) Đàn tại nhà Đức Cao Thượng Phẩm (Sài Gòn). Cao Đài Các con vui không. Đạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng, nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở; vậy thì ba con sắp đặt thế nầy: Hiếu, con viết cho rõ con nghe. Trung nghe, con dời bài vị của Lý Thái Bạch để dưới tượng Thầy.

Con dọn dẹp trống hết để một cái ghế bên trang thờ Thầy, rồi để lên trên một cái ghế lớn của bộ ghế phòng khách con đó. Ba cái nữa để sắp hàng theo ở dưới đặng làm ngôi cho ba vị Đầu Sư. Con phải bao bốn cái ghế ấy cho tinh khiết, còn bao nhiêu Môn Đệ phân ra làm ba ban. Ngày ấy có Lịch sắp đặt. Con đem bộ Thiên phục Giáo Tông mà để nơi ghế ở trên, còn bộ của con để giữa, bộ của Lịch bên hữu, còn ghế tả con phải viết một miếng giấy đề chữ Thái cho thiệt lớn mà dán lên chỗ dựa.

Con phải chỉ cho Hiếu nó sắp mấy cung kia đặng thêu vào áo, ấy là Đạo. Thầy sẽ coi lại. Trung kiếm thử (là kiếm thử cái bùa Bát Quái) đặng sắp may trong áo Giáo Tông. Trung bạch cùng Thầy rằng chẳng hiểu. Thì con coi mà định luật luyện Đạo nơi đó. Con lại phải cho thanh tịnh, kể từ nay diệt tận phàm tâm chớ nhơ một điểm, thì ngày ấy thề mới đặng. Con nghe và tuân theo. Hiếu dâng mão Giáo Tông may xong rồi cho Thầy xem.

Trúng, mà ai đội con phòng lật đật (Đức Chí Tôn biết trước là ông Chiêu không lãnh chức Giáo Tông, nên mới có câu nầy). Ngày 22 tháng 4 năm 1926. Cao Đài Trung, là biết đặng vì đâu nghe con. (Là sắp mấy cung trong mão Giáo Tông) CÀN: ở trên đầu (thêu chữ

Càn trên mão Giáo Tông). KHẢM: ngay hạ đơn điền. CẤN: bên tay mặt. CHẤN: bên tay trái. ĐOÀI: bên vai mặt. TỐN: bên vai trái. LY: ngay trái tim. KHÔN: giữa lưng.

Ba con nghe dạy cuộc sắp Thiên Phong nghe. Chỗ bàn ngự của Thầy là phải để một cái ghế. Trước ngôi của ba vị Đầu Sư vọng một bài vị, biểu Lịch viết như vầy (là Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt). “Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn”, lại vẽ thêm một lá bùa “Kim Quang Tiên” để thòng ngay chính giữa, ai ngó vào cũng đều thấy đặng. Lịch biết ngôi ba vị Đầu Sư ở sau bàn thờ Lôi Công Thiên.

Mấy con tối trí lắm nghe à. Phải vào Bản, đem các bài Thánh ngôn Thầy dạy để đọc cho chúng nó nghe trước rồi mới cầu Thầy. (Anh Đốc Bản ở Thánh Thất Cầu Kho).

Ngày 24-04-1926 (âl. 13-03-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy “Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ Chi Đại Đạo

con, chẳng chịu giao Chánh Giáo cho tay phàm nữa.” & “Cái vui của Thầy là đặng thấy các con hội hiệp cùng nhau, thương yêu nhau trong đạo đức của Thầy.” 24 Avril 1926 (13-03-Bính Dần). Lịch ái môn đệ quì như Trung. Các con nghe dạy. Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ Chi Đại Đạo là: Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Tùy theo phong hóa của nhân loại mà gầy Chánh Giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhân loại duy có hành Đạo nội tư phương mình mà thôi.

Còn nay thì nhân loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều Đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau; nên Thầy mới nhứt định qui nguyên, phục nhứt. Lại nữa, trước Thầy lại giao Chánh Giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh Giáo mà làm ra Phàm Giáo. Thầy lấy làm đau đớn, hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhân loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ. Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh Giáo cho tay phàm nữa.

Nhưng mà buộc phải lập chánh thể, có lớn có nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng Đảo. Vì vậy Thầy mới lập ra có một phẩm Giáo Tông, nghĩa là Anh cả, ba phẩm Đầu Sư, nghĩa là Giáo Hữu. Chẳng một ai dưới thế nầy còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà trị phần hồn của nhơn loại. Ai có đức hạnh lớn thì mới ngồi đặng địa vị của Thầy ban thưởng.

Còn cả Môn Đệ ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng; nhược kẻ nào phạm tội, thì Thầy trục xuất ra ngoài, cho khỏi điều rối loạn. Chiêu đã có công tu, lại là Môn Đệ yêu dấu của Thầy, nên Thầy muốn ban chức Giáo Tông cho nó, song vì lòng ám muội phạm đến oai linh Thầy mà ra lòng bất đức chẳng còn xứng đáng mà dìu dắt các con, nên Thầy cất phần thưởng nó, Thầy nhứt định để chức ấy lại mà đợi người xứng đáng, hay là Thầy đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con. 24 Avril 1926 Tái Cầu Các con coi thử đó thì đã hiểu rằng Thầy thương yêu nhơn loại là dường nào.

Cái vui của Thầy là đặng thấy các con hội hiệp cùng nhau, thương yêu nhau trong đạo đức của Thầy, ai còn dám làm cho chia lìa các con là đứa thù nghịch cùng Thầy. Chiêu đã hữu căn hữu kiếp; Thầy đã dùng huyền diệu mà thâu phục độ rỗi nó trước các con, biết bao phen Thầy gom các Môn Đệ lại, Thầy sở cậy nó ấp yêu dùm cho Thầy dường như gà mẹ ấp con, song nó chẳng vâng mạng lịnh Thầy, lại đành lòng cắn mổ xô đuổi dường ấy, thì làm sao cho xứng đáng cái trách nhậm rất lớn của Thầy toan phú thác cho nó.

Các con đừng trông mong rỗi cho nó, nghe và tuân mạng lịnh Thầy. Ngày mai các con còn nghe thêm nữa (là ngày 2504-1926).