Q.I · Bài 65–69 · Bính Dần–Mậu Thìn

Ngày 25-04-1926 (âl. 14-03-Bính Dần): Đức Chí Tôn sắp đặt ngày Thiên Phong

Ngày 25 Avril 1926 (14-03-Bính Dần). Sắp Đặt Ngày Thiên Phong Lịch, con đã nghe đọc những lời Thầy dặn há? Ngày mai lại để thêm một cái bàn dựa bên cửa sổ đằng trước ngó vô (tại nhà Anh lớn Lê Văn Trung) ở Chợ Lớn. Cư nghe dặn, con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ, xông hương cho nó, biểu nó lựa một bộ đồ tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón. Cười.... Đáng lẽ nó phải sắm khôi giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo nên Thầy không biểu.

Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt vô cho ngay ngôi Giáo Tông, lấy 9 tấc vải điều đắp mặt nó lại, biểu Đức, Hậu đứng gần em kẻo xuất hồn nó té tội nghiệp. Khi chấp cơ rồi xong xả, hai con mặc Thiên phục vào rồi thì nó mới leo lên. Lịch, con viết một lá bùa Giáng Ma Xử, đưa cho Tắc nó cầm. Hai con mặc đồ thường, chừng nào Thầy triệu Ngũ Lôi và Hộ Pháp về rồi Thầy biểu mặc vô thề mới đặng.

Mấy con mai sẽ nghe dạy thêm. 25-04-1926 (14-03-Bính Dần) Bàn Thầy giáng cơ thì để trước bàn Ngũ Lôi. Khi giáng rồi thì dời đi cho trống chỗ, đặng nhị vị Đầu Sư quì mà thề. Cư khi đem ba bộ Thiên phục để vọng trên ba cái ngai thì con phải chấp bút bằng nhang như mọi lần đặng Thầy trấn Thần trong ba bộ Thiên phục và ba cái ngai ấy rồi mới kêu hai vị Đầu Sư đến quì trước bửu ngai của nó đặng Thầy vẽ phù vào mình, rồi biểu Giảng xướng lên “Phục vị”, thì hai người leo lên ngồi.

Cả thảy chư Môn Đệ đều quì xuống; biểu Tắc nó leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy trục xuất chơn thần nó ra, nhớ biểu Hậu, Đức xông hương tay của chúng nó. Như em giựt mình té thì đỡ, rồi mới biểu hai vị Đầu Sư xuống ngai quì, đến trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên đầu cúi ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề như vầy: “Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên Ân là Thượng Trung Nhựt và Lê Văn Lịch tự Thiên Ân là Ngọc Lịch Nguyệt thề Hoàng Thiên Hậu Thổ trước Bửu Pháp Ngũ Lôi rằng: Làm tròn Thiên Đạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là Môn Đệ của Cao Đài Ngọc Đế; nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành Tả Đạo; như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt”.

Đến bàn Vi Hộ Pháp cũng quì xuống, vái y vậy điều câu sau thì như vầy: “Như ngày sau phạm Thiên Điều, thề có Hộ Pháp đọa Tam Đồ bất năng thoát tục”. Rồi mới biểu Giảng xướng lại nữa “Phục vị” thì Nhị vị Đầu Sư trở lại ngồi trên ngai, chư Môn Đệ đều đến lạy mỗi người hai lạy. Tới phiên các Môn Đệ từ người đến bàn Ngũ Lôi mà thề rằng: “Tên gì... Họ vì... Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ, đổi lòng, hiệp đồng chư Môn Đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục”.

Tới trước bàn Hộ Pháp cũng thề như vậy, rồi mới đến lạy Nhị vị Đầu Sư. Cư hỏi Thầy: Các Môn Đệ đều đến bàn Ngũ Lôi và Vi Hộ Pháp mà thề và đến lạy Nhị vị Đầu Sư, còn Anh Chiêu thì thế nào? Thầy sẽ đợi lòng sám hối của nó, vì đã lo sợ cầu khẩn Thầy mấy bữa rày. Nó cũng phải lạy như các Môn Đệ khác vậy. Mười một giờ rưỡi Thầy giáng cơ, phải biểu Lịch nó lập nghi cho có lễ phép. Nghe và tuân theo.

Ngày 26-04-1926 (15-03-Bính Dần): Đức Chí Tôn Phong Thánh lần đầu

11 giờ 30 đêm 25 rạng 26 Avril (khuya 14 rạng 15 tháng 3 Bính Dần). Cao Đài Hỉ chư Nhu,

Kim triêu dĩ đáo Thiên Trung Quang, Am hiểu thế tình tánh đức nan. Chỉ đãi thời lai quang minh tụ, Tả ban thiểu đức, hữu ban mang.

Rán hiểu. Đức, Hậu: Phong vi Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ. Phong Cư: Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ. Phong Tắc: Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ. Trung, Lịch: Đã thọ sắc, cứ tước vị mà theo lịnh sắc mạng Ta. Kỳ: Phong vi Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Đạo Giáo Sư. Bản: Phong vi Tiên Đạo Công Thần Thuyết Đạo Sư. Trung: Xin phẩm vị để như cũ và xin đừng cho chư Môn Đệ lạy. Ta nhận lời trước, còn điều sau phải tuân.

Chư Môn đệ đồng quì lạy Thầy “xin thứ tội cho Ông Chiêu”.

Chiêu thiếu đức thiếu tài. Trung, con sợ ai? Ta không vị ai. Ta biết hơn ngươi. Ta há không biết thương sao? Ấy cũng vì thiếu đức. Nó đã biết Ta. Cư tuân lời Thầy đã truyền mà thi hành. Ngày 26 Avril 1926.

Cao Đài Chiêu, ngươi chẳng kiên lịnh Ta, ai kiên? Ta chờ ngươi. Chiêu, ngươi chẳng thừa lịnh Ta, ai thừa lịnh? Ta đã nói người làm đầu Tam Giáo, đã bao phen Ta lập Đạo

sẵn cho, ngươi chê há. Ta đã sở định, ngươi dám cải. Chuyên quyền từ đấy bỏ tuồng xưa, Nghe nịnh, nghe khen thói cũng chừa. Sám hối Ta cho tu ít tháng, Tài hay tài múa chớ đua lừa.

Ngày 29-04-1928 (âl. 10-03-Mậu Thìn): Đức Chí Tôn dạy “Cuộc đời khó khăn tỉ như bài thi, nếu dễ thì ai cũng đặng, cuộc thi có ý vị gì đâu. Hễ bài càng khó thì đậu càng cao...”

Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm Tòa Thánh, năm Mậu Thìn (1928). Thầy Các con. Cư, Hiếu! Thầy thấy hai vợ chồng con chịu nhiều điều sầu thảm, Thầy mừng, mà cái mừng ấy lại đổ ra chứa chan giọt lụy! Đường đời khúc mắc chông gai là lẽ Thiên cơ đã định vậy; cái nơi để cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến kiến công lập vị mình chẳng khác nào con buôn trong buổi chợ. Cả sức lực, cả trí não tinh thần đều bị tiêu tán nơi ấy, vì vậy nên mới mất chơn linh, thất ngôi diệt vị.

Bởi vậy cho nên nhiều bực Thánh, Thần, Tiên, Phật cam lòng thủ phận chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đọa, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như nhu sĩ trốn thi, thế nào mong mỏi địa vị ra cao thượng. Cuộc đời khó khăn tỉ như bài thi, nếu dễ thì ai cũng đặng, cuộc thi có ý vị gì đâu. Hễ bài càng khó thì đậu càng cao, đậu cao mới ra có giá. Thầy tưởng như nơi thế gian nầy có đứa con nào Thầy cưng trọng hơn hết thì là các con, nhưng mà chẳng lẽ Thầy làm giám khảo lại cấp nấp bài thi lén cho mỗi đứa thì cái đậu của các con có ra chi.

Lại nữa, Thầy biết trước rằng: Không cần giúp các con cũng dư sức đậu đặng, thì dường ấy nếu Thầy giúp, tức hại thể diện các con, chớ không giờ phút nào Thầy xa các con. Các con chịu khổ hạnh là Thầy muốn vậy. Nhà nghèo hạnh tốt ấy là gương treo dạy đời, các con khá bền lòng son sắt; cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh; tâm thành là để giồi trau tánh tục; lòng đạo đức quí hơn là miếng đỉnh chung; tố bần hàn tùy mình mà hành Đạo, thì công quả ấy trổi hơn hạng thượng lưu đó các con.

Thăng. (Vì có người nghèo nên Thầy giáng cơ dạy).

Ngày 28-06-1928 (âl. 11-05-Mậu Thìn): Đức Chí Tôn dạy làm đường cát trắng để ví với khổ hạnh

Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm Tòa Thánh, Le 28 Juin 1928 (Ngày 11 tháng 5 Mậu Thìn) Thầy Các con. Hiếu! Con nghe Thầy nói chuyện làm đường cát trắng con. Thầy đố con biết làm sao cho đường đen ra trắng... Cười... Nghe con, nè làm theo nghe. Đổ đường đen vào một cái hủ thọc lủng đít, rồi định chừng cho vừa hai phần hủ đường, còn một phần hủ thì đổ bùn non cho tới miệng, đem phơi nắng chừng một tuần thì là đường trở nên trắng; gạt lớp bùn đi thì con đặng một thứ đường trắng phau phau rất ngon rất đẹp đó con.

Cái khổ hạnh của con giống như đường đó con à. Con có biết Thầy khóc như con vậy chăng con?! Nếu con không vậy làm sao đáng con cái của Thầy. Con chỉ nhớ rằng Thầy thương con là đủ. Đặng thế gian yêu mến ắt Thầy phải ghét, mà Thầy ghét con thì còn chi con, con khá nhớ! Thăng.

Khổ Tâm Hành Đạo của Đức Cao Thượng Phẩm và Nữ Đầu Sư Hương Hiếu

Khổ Tâm hành Đạo: Nhiều nỗi Khổ Tâm Của ĐỨC Cao Thượng Phẩm Xin Kể Dưới đây: Xây Bàn (SƠ Khởi) Thời kỳ Trời đến cứu thế tại Nam phương, năm Ất Sửu (1925). Đức Cao Đài giáng cơ dạy chúng tôi phế đời hành Đạo. Hai tôi vâng lịnh liền để trọn đức tin nơi Đức Cao Đài. Chúng tôi hết lòng hết dạ chỉ để tâm tôn sùng Đấng Thiêng Liêng là Đức Chí Tôn, nên hai tôi trọn vâng mạng lịnh phế đời hành Đạo hồi năm 1926 (liền bỏ sở làm).

Khai Đạo 14 tháng 10 Bính Dần (18-11-1926), mà chúng tôi hành Đạo hồi năm Ất Sửu (1925), nghĩa là Đức Chí Tôn khiến cho ba ông: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh ham mộ xây bàn đặng các Đấng đến mở Đạo. Ông Cao Quỳnh Cư và Nguyễn Thị Hiếu vâng lịnh Chí Tôn phế đời hành Đạo, bỏ sở làm và tém dẹp đồ đạc nhà cửa về một lượt với Chức Sắc cùng ngày 14-10-Bính Dần (1926). Hành Đạo tại chùa Gò Kén hơn 3 tháng, trả chùa Từ Lâm Tự Gò Kén, nhằm ngày 20-02-Đinh Mão (23-031927).

Dọn đồ dời chùa, thỉnh chư Phật về đất mới mua, hành Đạo được 4 năm.... Bỗng đâu bão tố, đất bằng sóng dậy đưa tới làm khổ tâm chúng tôi hết sức buồn là không thể trở ra đời làm việc nữa, hổ thẹn với anh em làm việc trong sở, vì đã nhứt định phủi hết trần thế, công danh lợi lộc cũng chẳng màng, quyết chí tu hành để làm con tế vật cho Đức Chí Tôn sai khiến mà thôi. Nghĩ lại hồi còn rừng rậm sầm uất không ai về, để Đức Cao Thượng Phẩm chỉ dẫn người Miên phá rừng, đánh gốc, phá chồi, tạo tác Đền Thánh tạm, nào là Đông Lang, Tây Lang, Hậu Điện, nhà Thiên Phong, nhà ngang dãy dọc, nhà Dưỡng Lão, nhà trường, nhà khách.... tạo đâu đó xong xuôi rồi Đức Cao Thượng Phẩm bị một trận khảo đảo khá dữ dội là: Có một nhóm người thiếu thương yêu gieo ác cảm hội nhau dưới Thủ Đức, nước lã khuấy nên hồ, họ đồng lòng về Tòa Thánh đuổi Đức Cao Thượng Phẩm kỳ 24 giờ ra khỏi Tòa Thánh, nếu không thì cột trong rừng bắn.

Làm Đạo lúc mới phôi thai rất khổ sở trăm bề, có kẻ nghịch rình mò âm mưu với nhau hợp lại xúi giục gây rối, làm loạn, họ đồng lòng với nhau đuổi hai vợ chồng Thầy Tư (tức Cư và Hiếu). Buồn cười... tuồng đời lạnh nhạt, thôi, họ dữ quá! Chúng tôi về Thảo Xá Hiền Cung là nơi căn cội của Chí Tôn dạy cất trước, nên Thảo Xá Hiền Cung là gốc. Thưa quý Ngài, hai tôi bị đại khảo, lớp thì bị người bạc đãi, xua đuổi, lớp bị húng hiếp đủ điều, lớp thì khổ tâm trong gia đình, trong một năm chết ba người yêu mến nhất của đời sống tôi: chồng mất tháng 3, con mất tháng 8, mẹ mất tháng 9 năm Kỷ T ỵ (1929).

Tôi bơ vơ có một mình, khóc thầm tủi lén, nước mắt không ráo, quên ăn bỏ ngủ. Than ôi! Trong lúc tôi lâm nguy nhờ có Anh Cả, Đức Thượng Đầu Sư và Chị Lớn Thượng vô ra khuyên lơn tôi. Anh Cả gởi thơ cho Nữ phái các làng kế cận hạt Tây Ninh. Anh Cả dạy Nữ phái tới lui thường thường chuyện vãn với tôi đặng giải khuây trong cơn sầu não, thật không có bút mực nào cạn tỏ cho hết, nhiều nỗi đứt từ đoạn ruột (hồi năm 1929) thật là mạch sầu khó nỗi cản ngăn, tâm chí không toan dằn đặng lụy!!!

Thưa quý Ngài, bởi vì do theo luật của Tạo Hóa, hễ đàn bà liễu yếu đào thơ, phải nương dựa dưới bóng của ông chồng, chi chi cũng nhờ ông chồng, những khi đói rách, lành, muôn việc đều nhờ ông chồng mà thôi. Trái lại trong gia đình chết hết, bỏ tôi ở lại có một mình, chỉ nương náu với mẹ già như trái muồi chín cây (Bà Nội An). Tôi cũng phụng sự cho má tôi đến năm 1946 má tôi qui liễu.

Hết Phần Đạo Sử Xây Bàn ĐẠO SỬ Quyển II Bính Dần (1926) — Kỷ T ỵ (1929)