Q.II · Bài 71–73 · Bính Dần

KHAI ĐẠO NƠI CHÁNH PHỦ

Ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần (29-9-1926), ông Cựu Thượng Nghị Viện Lê Văn Trung vâng Thánh ý hiệp với chư Đạo Hữu hết thảy là 247 người tại nhà ông Nguyễn Văn Tường đứng tên vào Tịch Đạo để khai Đạo với Chánh Phủ. Tờ Khai Đạo đến ngày Mùng một tháng chín (0710-1926) mới gởi lên Chánh Phủ cho quan Nguyên Soái Nam Kỳ là ông Le Fol. Trong tờ nầy có 28 người đứng tên thay mặt cho cả chư Đạo Hữu có tên trong Tịch Đạo.

Tờ Khai ấy làm bằng chữ Lang Sa, phiên dịch ra như vầy: Sài Gòn, Le 7 Octobre 1926. Kính cùng Quan Thống Đốc Nam Kỳ Sài Gòn, Chúng tôi đồng ký tên dưới đây, kính cho Quan lớn rõ: Vốn từ trước, tại cõi Đông Pháp có ba nền Tôn Giáo lớn là: Thích Giáo, Lão Giáo, và Khổng Giáo, Tiên Nhơn chúng tôi sùng bái cả ba Đạo ấy, lại nhờ do theo Tôn chỉ quý báu của các Chưởng Giáo truyền lại mới được an cư lạc nghiệp.

Trong sử còn ghi câu: “Gia vô bế hộ, lộ bất thập di”, chỉ nghĩa là con người thuở ấy an nhàn cho đến đổi ban đêm ngủ không đóng cửa nhà, còn ngoài đường thấy của rơi không ai thèm lượm. Nhưng buồn thay cho đời thái bình phải mất vì mấy duyên cớ sau nầy: 1. Những người hành Đạo đều phân chia ra nhiều Đạo, nhiều phái mà kích bác lẫn nhau, chớ Tôn chỉ của Tam Giáo đều như một là làm lành lánh dữ và kỉnh thờ Đấng Tạo Hóa. 2.

Lại canh cải mối chánh truyền của các Đạo ấy, làm cho thất chơn truyền. 3. Những dư luận phản đối nhau về Tôn Giáo, mà ta thấy hằng ngày cũng tại bả vinh hoa và lòng tham lam của nhân loại mà ra, nên chi người An Nam bây giờ đều bỏ hết những tục lệ tận thiện tận mỹ ngày xưa. Thấy tình thế như vậy mà đau lòng, cho nên nhiều người An Nam, vì căn bổn, vì Tôn Giáo, đã tìm phương thế hiệp Tam Giáo lại làm một (Quy nguyên phục nhứt) gọi là Đạo Cao Đài hay là Đại Đạo.

May mắn cho chúng sanh, Thiên tùng Nhơn nguyện, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế hằng giáng Đàn dạy Đạo và hiệp Tam Giáo lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại cõi Nam nầy. Tam Kỳ Phổ Độ nghĩa là Đại Ân Xá lần thứ ba, những lời nói của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ dạy chúng tôi đều cốt để truyền bá Tôn chỉ Tam Giáo. Đạo Cao Đài dạy cho biết: 1. Luân lý cao thượng của Đức Khổng Phu Tử. 2. Đạo đức của Phật Giáo và Tiên Giáo là làm lành lánh dữ, thương yêu nhân loại, cư xử thuận hòa mà lánh cuộc loạn ly giặc giã.

Chúng tôi gởi theo đây cho quan lớn nghiệm xét: 1. Một bản sao lục Thánh ngôn của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế. 2. Một bổn phiên dịch Thánh Kinh. Chủ ý của chúng tôi là muốn làm sao cho nhơn loại được cộng hưởng cuộc hòa bình như buổi trước. Được như vậy, chúng sanh sẽ thấy đặng thời kỳ mới mẻ cực kỳ hạnh phúc không thế nào tả ra đặng. Chúng tôi thay mặt cho nhiều người An Nam, mà đã nhìn nhận sở hành của chúng tôi và đã ký tên vào tờ Đạo Tịch ghim theo đây, đến khai cho quan lớn biết rằng: Kể từ ngày nay chúng tôi đi phổ thông Đại Đạo khắp cả hoàn cầu.

Chúng tôi xin quan lớn công nhận Tờ Khai Đạo của chúng tôi. Ký tên: – Mme Lâm Ngọc Thanh: Nghiệp chủ ở Vũng Liêm. – M. Lê Văn Trung: Cựu Thượng Nghị Viện, thưởng thọ Ngũ Đẳng Bửu Tinh (Chợ Lớn). – Lê Văn Lịch: Thầy tu - làng Long An (Chợ Lớn). – Trần Đạo Quang: Thầy tu - làng Hạnh Thông Tây (Gia Định). – Nguyễn Ngọc Tương:

Tri phủ - chủ quận Cần Giuộc. – Nguyễn Ngọc Thơ: Nghiệp chủ - Sài Gòn. – Lê Bá Trang: Đốc Phủ Sứ - Chợ Lớn. – Vương Quan Kỳ: Tri Phủ sở Thuế Thân - Sài Gòn. – Nguyễn Văn Kinh: Thầy tu - Bình Lý Thôn, Gia Định. – Ngô Tường Vân: Thông Phán - Sở Tạo Tác, Sài Gòn. – Nguyễn Văn Đạt: Nghiệp chủ - Sài Gòn. – Ngô Văn Kim: Điền chủ - Đại Hương Cả, Cần Giuộc. – Đoàn Văn Bản: Đốc Học trường Cầu Kho. – Lê Văn Giảng: Thơ toán hảng Ippolito - Sài Gòn. – Huỳnh Văn Giỏi: Thông Phán sở Tân Đáo - Sài Gòn. – Nguyễn Văn Tường: Thông Ngôn sở T uần Cảnh - Sài Gòn. – Cao Quỳnh Cư: Thư ký Sở Hỏa Xa - Sài Gòn. – Phạm Công Tắc: Thư ký Sở Thương Chánh - Sài Gòn. – Cao Hoài Sang: Thư ký Sở Thương Chánh - Sài Gòn. – Nguyễn Trung Hậu: Đốc Học Trường Tư Thục Đa Kao. – Trương Hữu Đức: Thư ký Sở Hỏa Xa - Sài Gòn. – Huỳnh Trung Tuất: Nghiệp chủ Chợ Đuổi - Sài Gòn. – Nguyễn Văn Chức: Cai Tổng - Chợ Lớn. – Lại Văn Hành: Hương Cả - Chợ Lớn. – Nguyễn Văn Trò: Giáo Viên - Sài Gòn. – Nguyễn Văn Hương: Giáo Viên - Đa Kao. – Võ Văn Kỉnh: Giáo Tập - Cần Giuộc. – Phạm Văn Tỷ: Giáo Tập - Cần Giuộc.

Phụ ghi: Tài liệu nầy có trong quyển Tiểu Sử Đức QUYỀN GIÁO TÔNG

PHỔ ĐỘ LỤC TỈNH

Khai Đạo xong rồi, việc phổ độ Lục Tỉnh, kể từ tháng 9 năm Bính Dần chia ra như vầy: 1. Mấy ông Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Thơ, Trần Đạo Quang, lo phổ độ trong mấy tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá. Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc phò loan. 2. Mấy ông Lê Văn Lịch, Nguyễn Ngọc Tương, Yết Ma Luật lo phổ độ trong mấy hạt: Chợ Lớn, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre. Ông Nguyễn Trung Hậu và ông Trương Hữu Đức phò loan. 3.

Mấy ông Lê Bá Trang, Vương Quan Kỳ, Yết Ma Nhung lo phổ độ trong mấy hạt: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa, Sa Đéc. Ông Cao Quỳnh Diêu và ông Cao Hoài Sang phò loan. • Ông Nguyễn Văn Tương và ông Nguyễn Văn Kinh là người rõ thông đạo lý, lại đi khắp nơi giảng Đạo để độ rỗi người quen. Kết quả cuộc phổ thông nầy rất nên long trọng, chỉ có một tháng mấy mà kể ra có mấy vạn người nhập môn cầu Đạo.

Mùng 10 tháng 10 là ngày tạm ngưng việc phổ độ, để lo sắp đặt lễ Khánh Thành Thánh Thất ở Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh). Sự Tích Cảnh Chùa Từ Lâm Gò Kén Cảnh chùa nầy vốn của Hòa Thượng Như Nhãn, ở chùa Giác Hải (Chợ Gạo) quyên tiền trong Bổn Đạo của ông mà lập ra. Tháng 7 năm Bính Dần (Aout 1926), ông tình nguyện dâng chùa ấy cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để làm Thánh Thất. Khi ấy chùa cất mới vừa xong, nhưng chưa sơn phết, chưa tráng xi măng và chung quanh chùa vẫn còn bụi cây sầm uất. Ông Nguyễn Ngọc Thơ phải ra tiền lo việc ấy cho hoàn tất, lại còn dựng cốt Phật Thích Ca và khai thác các việc khác như là: Đốn cây, trồng kiển, đắp đường cho xe hơi vô tận chùa và cất Tịnh Thất...

Ngày Khai Thánh Thất Đêm 14 rạng mặt Rằm tháng 10 năm Bính Dần (18 Novembre 1926) là đêm làm Lễ Khánh Thành Thánh Thất Từ Lâm Tự. Ông Lê Văn Trung thay mặt cho Bổn Đạo mời đủ các Chức Sắc, Viên quan Lang Sa và An Nam đến dự lễ ấy. Chư Bổn Đạo và Chư Thiện Nam Tín Nữ hiện diện kể đến hằng muôn. Hội Thánh tiếp đãi khách một cách ân cần trọng hậu. Ngoài cúng phẩm ra thì không thâu tiền bạc gì cả.

Dời Thánh Thất VỀ Làng Long Thành Tây ninh Vì cuộc biến nọ, vì trường công kích kia mà Hòa Thượng Như Nhãn ngã lòng và Bổn Đạo của ông đã cúng tiền cất Từ Lâm Tự cũng vì đó mà buộc ông đòi Chùa lại. Hội Thánh buộc phải giao Chùa lại cho ông Như Nhãn đoạn mới mua một sở rừng 140 mẫu giá 25 ngàn tọa lạc ở làng Long Thành. Khai phá được chừng 10 mẫu rồi mới cất Tòa Thánh tạm mà an bài nơi đó kể từ tháng 2 năm Đinh Mão.

Lúc bấy giờ, Đạo phải trải qua nhiều lối chông gai, nhiều đường khổ hạnh, nhưng người chủ trương việc Đạo, nhứt là ông Cao Quỳnh Cư đem hết dạ nhiệt thành, hết bầu tâm huyết mà sắp đặt trật tự bên trong và chống trả với phản động lực bên ngoài (đời Pháp thuộc). Đến đây, tôi xin ngừng bút, tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ cho quý độc giả rõ biết sơ lược về gốc tích Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Đầu Sư THƯỢNG TRUNG NHỰT Sài Gòn, Dimanche 24 Octobre 1926. (Ngày 18-09-Bính Dần)

Ngày 24-10-1926 (15-09-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy “Thầy là Chư Phật, Chư Phật là Thầy

Chùa Phước Linh Tự Thích CA Mâu ni Phật Tá Danh Cao Đài Tiên Ông Đại BỒ Tát MA Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương Vì Tân Luật chưa ra nên Thầy phải giải, đã có Thánh Tượng Thầy, thì là cốt Ngọc Hoàng còn để lại chẳng nghĩa chi hết. Thầy nói cho các con rõ, vì cớ nào trước từ Nhứt Tổ chí Lục Tổ thì Thầy ngồi trước, vì trước lớn là phải vậy. Khai Thiên Địa vốn Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy.

Thầy đã nói, một chơn thần mà biến hóa Càn Khôn Thế Giái và cả nhơn loại. Thầy là Chư Phật, Chư Phật là Thầy. Các con là Chư Phật, Chư Phật là các con. Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Nên Thầy khai Bát Quái mà tạo thành Càn Khôn Thế Giái, nên mới gọi là Pháp. Pháp mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật, rồi mới tới có người nên gọi là Tăng. Thầy là Phật của cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.

Thầy lập Phật Giáo vừa khi khai Thiên lập Địa, nên Phật Giáo là trước, kế Tiên Giáo rồi mới tới Nho Giáo, nay Hạ Ngươn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu. Tỷ như lập Tam Giáo qui nhứt thì: Nho là trước, Lão là giữa, Thích là chót. Nên Thầy phải ngồi sau Chư Phật, Tiên, Thánh, Thần mà đưa chúng nó lại vô vi chi khí chính là Niết Bàn đó vậy. Còn như Hộ Pháp đã xuống trần rồi còn thờ chi nữa, nên các con nên lập ra ba bài vị đề: Hộ Pháp Thượng Phẩm bên hữu Thượng Sanh bên tả Còn cổ lễ thì cúng: Rượu là Khí, Bông là Tinh, Trà là Thần.