Q.II · Bài 97–98 · Bính Dần

Ngày 15-12-1926 (âl. 11-11-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo (bằng Pháp ngữ)

Mercredi 15 Décembre 1926 (11-11-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Nhu, chư Tín Hữu, Chỉnh đàn cho nghiêm đặng Thầy ngự. Qu’on dire à ces Francaise, qu’ici est un maison de prières, qu’il ne jaut pas qu’ils la considèrent, comme une curiosité. Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương (Marcel martin 135 rue Catinat Sàigòn) Debout et lis. T oute chose vient à son huere.

T u as vu et su ce que la plupart de tes compatriotres cherchent à voir et à savoir. Ce n’est que la conclusion des recherches spérites que j’enseigne cette nouvelle doctrine. N’ai je pas prédit que le spéritisme est une religion d’avenir. T u as naturellement l’intetion de créer en ce pays une relation morale des deux races Francaise et Annamite appeleés à vivre ensemble par ma volonté dans une communauté de vie et d’interêt.

T u seras satisfait par une vie d’un homme de bien. T es voeux seront éxauces. T u seras plus tard un de mes fervents disciples pour prêcher au monde la paix et la concorde. L ’equipe Francaise seras bientôt ereé. T u seras forcé de revenir en France én 1928 pour soutenir cette doctrine au congrès universel. T u seras grand et puissant par ma volonté. Au revoir, c’est assez pour toi. 15 Décembre 1926.

Tiếp theo: 11-11-Bính Dần. Soạn:

Soạn sành trong trí lớp lang dò, Coi thử người làm thế ấm no. Có thất đức chăng thì biết lấy, Hết cơn tính lợp tới khi mò.

Thâu

Về ai một cái nghiệp nhà tan, Chẳng chịu làm ăn cứ điếm đàng. Hai nẻo nên hư thì ắt một, Hễ không nghèo khó chắc vinh sang.

Thâu

Sĩ mê hoạn lộ sĩ lầm đàng, Cái bóng dáng đời há phải quan. Đức hạnh chẳng như đời Hiền triết, Chưa lo ích chúng tính thân nhàn.

Thâu

Út eo một phận chịu người chê, Chẳng phải nên quan chẳng phải hề. Trí hóa ở đời thôi trống lỏng, Mà con lợi muốn với danh mê.

Thâu

Trọng:

Trọng thân con khá biết trọng người, Cái giá trị mình phải có nơi. Thường kỉnh lấy thân thì kỉnh kẻ, Chẳng ưa nhiều khóc với nhiều cười.

Thâu

Trình:

Trình ra hai mặt thật hòa ngoan, Khá nhớ lê quan với phép làng. Trước mặt luật đời xem rõ thấy, Thưởng răn phép Phật rõ ngay gian.

Thâu

Thông:

Thông minh tánh chất đặng ôn hòa, Nhớ hiểu Phật Trời chẳng ở xa. Ngó thử đầu hiên xem thấy dạng, Hung hăng ác nghiệt kệ người ta.

Thâu

Lại:

Lại đây Ta hỏi hết lòng thờ, Hay đến cầu xin hỏi bá vơ. Thấy rõ lòng ngươi Ta phải đuổi, Về lo sám hối kịp ngày giờ.

Lui. Tri:

Tri cơ mầu nhiệm Đạo không ngươi, Ham rượu cho ngon miếng thịt tươi. Nặng nhẹ mặt cân cơ Tạo kéo, Bần công khóc khóc lại cười cười.

Điểu:

Điểu mai mấy lúc đẹp duyên hài, Chít mát là vì bởi tại ai. Một cảnh đôi quê thân chẳng thuận, Làm cho sắc nọ phải xa tài.

Thâu

Hiếu:

Hiếu hạnh hườn sanh hiếu hạnh nhi, Không lo cho vẹn Đạo tương tùy. Hắt hiu cứ tưởng trăng cùng gió, Mà để cho ai đến lỡ thì.

Thâu

Phú:

Phú cho Tạo hóa định thân người, Oan nghiệt cũng vì bởi tại ngươi. Nếu quả dữ răn cùng hiền thưởng, Mới hay minh chánh cái quyền Trời.

Thâu

Cao:

Cao xanh nào có phụ chi con, Mà chẳng giữ cho đức vẹn còn. May mắn một thân đôi thế giúp, Không thì có thuở phước nhà mòn.

Thâu

Hóa:

Hóa sanh muôn vật cảnh thiên nhiên, Ước đặng giành nuôi lấy kẻ hiền. Hay nỗi cơ cầu cân Tạo hóa, Phải cho lũ quỉ thử Thần Tiên.

Thâu

Trượng:

Trượng tài khinh nghĩa đã bao phen, Làm mất số sang chịu khó hèn. Ví biết ăn năn đền tội trước, Sửa răn sửa mạng Lão ban khen.

Thâu

Kế cao âu rõ phép Trời cao, May đặng đường Tiên cẳng bước vào. Lợi mượn danh mua tua khá lánh, Biết thân biết phận tính dường bao.

Thâu

Đắc:

Đắc công đắc quả bởi căn xưa, Nết dữ từ đây gắng phải chừa. Đôi mép kéo kia dầu cắt đứt, Thì là bên đẩy với bên đưa.

Thâu

Gồng:

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần, Có thân âu hẳn khổ cho thân. Chưa lo buổi sớm lo nồi tối, Cái kiếp oan khiên khá dứt lần.

Thâu

Nam:

Nam nhi phải gắng chí bền lòng, Muôn sự dầu nên cậy chút công. Bao thuở nằm nhà cơm tới miệng, Của công thường thế phải cân đồng.

Thâu

Trình:

Trình môn đã muốn ít câu văn, Chải chuốt mép môi cũng gọi rằng. Trí thức ít ai đem thế phục, Từ khi tuổi trẻ biết làm nhân.

Thâu

Đạt:

Đạt đầu công có gã Triệu Vân, Tá Thục trong khi lớn sức Thần. Chước thế thiếu văn vùa giúp võ, Phàm thân chịu nhọc lúc Tam phân.

Thâu

Ngoạt:

Ngoạt nhựt chi qua khổ chẳng qua, Phải cam thủ phận cải lòng tà. Học vui với thú phong trần khách, Ham mến thế gian ít kẻ hòa.

Thâu

Mười trăng có lẽ phận không yên, Năm tới họa may hết lúc phiền. Cầu biết kỉnh Tiên cùng lễ Phật, Thì là mạng số đặng hoàn viên. Nam Nữ Thầy thâu hết. Cần Giuộc hữu sự.

Ngày 17-12-1926 (âl. 13-11-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo (bằng Pháp ngữ)

Vendredi 17 Décembre 1926 (13-11-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Môn Sanh, Monsieur Dauplay est prité d’attendre la venue du Divin Maitre. Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Dieu tout puissant qui vient sous la nom de Cao Dai pour enseigner la vérité en Annam. Dauplay: Debout et lis. Je tiens à ta dire que rien ne se creé et néxiste sur globe sans ma volonté. De pauvres esprits prétendent qu’ils sont dans le secret de Dieu.

Or, je ne donne à nul humain ici. Bas d’en jaire la révélation. Pour venir à moi, il faut des prières. Je ne néglise pas à me manijestér quand ces prières sont sincères. Il suffit, pour vous convaincre que je suis bien Jéhovah des Hébreux le Dieu des armmés des israclites, le Dieu inconnu des Juifs et le vrai Père de Jésus Christ, de me prier par ce prête nom Cao Dai pour que vos voeux soient exaucés.

T u viens à moi avec un sentiment sincère pour bien jaire aux peuples soumis qui te sont confiés. Je te prie alors de propager cette doctrine à tous tés protégés. C’est la seul qui maintient l’humannité dans l’amour des créatures et vous apporte une paix durable. Sibon:

Thành tín nhứt tâm cũng đáng khen, Không sang tột bực cũng không hèn. Nêu danh trí sĩ nhà quan nghiệp, Có thuở ơn ban nghiệp sách đèn.

Thâu

Châu Thiết:

Nhà ân hậu bực tài danh, Buồn lúc phong quang chẳng đắc thành. Khanh tể nối đời khanh tể mãi, Một điều khuyết Đạo chẳng đua tranh.

Thâu

Dauplay:

Hoàng ngọc điệp của trâm anh, Tập tánh ôn phu đã tánh thành. Hiền đức nên trang ngôi điện các, Phải..... sửa vững lúc nghiêng thành.

Sô sa ít chịu vải bô ưa, Tùy thế công danh cũng đã thừa. Lừa lọc trăm mưu nên nghiệp cả, Bởi không dua nịnh chúng chê thừa.

Tiệp:

Tiệp theo thời thế tánh hiền lương, Cứ giữ ôn nhu chịu thủ thường. Nếu biết mình nên là bởi đức, Dưới quyền trẻ dại khá nên thương. May thay nên lúc thủ ngao đầu, Đạo đức của con ý vị sâu. Có thuở mạng Trời đưa sắc đến, Nên giềng Đạo cả chẳng bao lâu. Lâm Thị Ái Nữ, khá nói Đạo cho em nghe con.

Danh Chúc:

Phật tâm ai hiểu cái người nầy, Biết đặng cùng chăng chỉ một Thầy. Đừng sợ nghèo hèn lo đạo hạnh, Của dư có kẻ đến dâng hoài.

Thượng. Quyền:

Quyền con cũng lớn cửa nhà Thầy, Những việc rầu buồn khá bỏ khuây. Đặng lớn thuyền rồi đừng tính chở, Tự nhiên có kẻ đổ đông đầy.

Dự vào đường Đạo hạnh tua trau, Đừng đợi người kêu mới tỉnh màu. Phương tục đã quen theo thục cách, Đến đền Tiên Phật dễ đâu nào.

Tâm:

Tâm thành có thuở nghiệp nhà nên, Đạo đức khuyên con cứ giữ bền. Hễ đặng bữa cày buông bữa giỗ, Phân thân đâu đặng hưởng hai bên.

Trà:

Trà đình ai để nợ cho con, Vì nghĩa mà thân phải mỏi mòn. Đừng trách Trời già không mắt thấy, Dầu thay cơ Tạo cũng Thầy còn.

Dưỡng:

Dưỡng sinh đã vẹn nợ đôi bên, Có thiếu thì con cũng trả liền. Phủi sạch bụi hồng cho rảnh kiếp, Thân còn chẳng kể, kể chi duyên.

Dậy:

Dậy đục lóng trong trách lũ chài, Đã an thân phận phá vì ai. Tẻ vui đã hưởng mùi dưa muối, Nơi thế dường như khách lạc loài.

Thâu

Cật:

Cật vấn cho ra lẽ ức oan, Thôi con bớt thảm lụy tuôn tràn. Mắt Trời đã thấy cơn nhằn nhọc, Bởi kiếp căn xưa phải chịu mang.

Thâu

Duyên:

Duyên đằng thuận gió đã êm thuyền, Bốn biển năm hồ đã đậu yên. Khá tưởng chút tình lo nỗi hiếu, Trả xong nhơn nghĩa Phật tâm truyền.

Thâu

Tiếng:

Tiếng đức còn hơn lẽ tiếng tài, Mấy trang hằng giữ một lòng hay. Biết người biết mặt lòng đâu biết, Đừng cứ đeo đai nỗi sắc tài.

Thâu

Lục:

Lục xem các sách Thánh Hiền xưa, Đều đặn lành tu dữ ấy chừa. Đã lóng bên tai Tiên trước mặt, Kim Tiên Huệ Mạng thấy hay chưa.

Thâu

Đầy:

Đầy túi còn lo kiếm chứa thêm, Cái tham thế sự thấy thì thèm. Ưa dằn đồng dưới trên năm bảy, Để của phù vân đến cũ mèm.

Thâu

Quân:

Quân trung ai rõ nữ anh hùng, Lập nghiệp cho người đến hưởng chung. Ví bẳng kẻ sau noi đứa trước, Thì đời phúc hậu nối không cùng.

Thâu

So đời lại nghĩ thảm cho đời, Nhỏ biết tu mà lớn biết chơi. Trẻ dại đôi khi lo bực trí, Nghĩ càng phát giận lại buồn cười. Cả bên Nam đều thâu.