Q.II · Bài 99–100 · Bính Dần

Ngày 18-12-1926 (âl. 14-11-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo & Đức Thái Bạch dạy về việc lập Tân Luật

Samedi 18 Décembre 1926 (14-11-Bính Dần). Thái Bạch

Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Ô trược lắm, ô trược lắm..... Sinh Thanh, Hiền Hữu xuất ngoại kẻ ẩm tửu. Chỉnh đàn lại cho tinh khiết đặng Thầy ngự.

Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Các con, chư Nhu thượng sớ. Bình thân. Tiền:

Tiền căn đã có sẵn công tu, Biết đạo lý cao khá vận trù. Kế thế xây thêm nền đạo đức, Xen vào phẩm cũ khá cần cù.

Muôn:

Muôn năm ít kẻ để danh nêu, Hết chí cứ lo có một điều. Vợ tốt rượu ngon và thịt béo, Ham ưa vật chất chẳng hề kiêng.

Nguyễn Quốc Biểu:

Hiến sách cường tranh khổ tụ quần, Ái ngôi hám vị thị phi quân. Đồng tâm hựu chí mưu mô hiệp, Vô đạo nan tri sự bất phân.

Thâu

Thiên địa tối linh sanh Thánh chất, Quân vương háo nghĩa tác Hiền thần. Hữu công trì chí Thiên cơ toán, Mạc nại lao lung trạch hảo nhân.

Thâu

Trần Phát Đại:

Đạo tâm phải biết đạo làm người, Đời đó là ngươi đó hỡi ngươi. Niên kỷ chưa qua cơn hoạn đến, Mà che miệng lén nhẫn cười đời.

Lui. Võ Văn Sanh:

Sanh nhằm buổi khổ khá lo lường, Biết phận mình hèn chúng mới thương. Láo táo đừng không qua kẻ dại, Phải khinh mình trước kẻ ngoài nhường.

Thâu

Vân:

Vân đài có thuở đặng nêu tên, Nghèo khổ hiền lương giữ dạ bền. Chưa phải thời lai con ẩn nhẫn, Dầu sao làng xóm cũng ngồi trên.

Thâu

Phan Văn Vịnh:

Vịnh theo thời thế ở theo người, Đừng tưởng ở đời cứ việc chơi. Mình ích chi cho nhơn loại đỡ, Đừng ngồi toại hưởng lộc nhà Trời.

Lui. Nguyễn Văn Bời:

Bời lời lòng những luống lo toan, Lo đến Tổ tông chốn suối vàng. Lo vợ lo con lo sự nghiệp, Lo đâu lo đó Đạo không màng.

Thâu

Trần Văn Vẽ:

Vẽ mày khéo đến hỏi xin tu, Vợ chịu sao kham với vợ ngu. Hỏi thử ăn chay thì ngán miệng, Đeo theo thịt rượu với bôn xu.

Lui. Hạnh:

Hạnh đức làm gương dắt lũ sau, Một nhà đạo đức khá thương nhau. Đã nên người trước đời trông cậy, Gắng sửa nhà tranh hóa động đào. Thâu. Sau Thầy trọng dụng.

Bùi Văn Kinh:

Kinh sách cha ông để lại đâu, Mà con chữ viết chẳng nên câu. Một nhà hiền đức ngày mòn mỏi, Sao chẳng đường tu đến nẻo cầu.

Thâu

Trần Thị Mai:

Mai xưa trổ nhụy đã hai lần, Tại ái nữ không biết giữ thân. Có phẩm phải lo trân trọng phẩm, Quyền xô thành ngã dễ bao lần.

Thâu

Huỳnh Xiếu Chuyên:

Chuyên gìn Tứ đức với Tam tùng, Làm hiệu dạy lần bọn nữ trung. Đạo đức là nền làm phẩm cách, Mượn nhành dương tịnh lửa sôi lòng.

Thâu

Bùi Thị Sùng:

Sùng tu nên nết ấy là danh, Cái hạnh trau tria mới đặng thành. Đã hiểu lẽ hơn hơn lẽ thiệt, Thì toan bỏ dữ bỏ cho đành.

Thâu

Xiếu Ngó:

Xiếu Ngó mà nên bởi có người, Dắt dìu rồi lại dạy thông đời. Lửa hương ví bẳng ngày sao đượm, Phải nhớ công ơn của Đất Trời.

Thâu

Trương Thị Nhờ:

Nhờ âm chất đủ mẹ cha xưa, Nên hưởng giàu sang cũng đã thừa. Biết Đạo con tua gìn tánh đức, Trong cơn nắng hạn khá là mưa.

Thâu

Khá phổ độ con cái Trung Huê của Thầy nghe.

Sĩ hổ con đừng thẹn với đời, Thầy đây còn phải chịu mang lời. Nên hư sang trọng nhờ căn trước, Dầu phải chi chi cũng có Trời.

Thâu

Hổ thâu, khá phổ độ Nữ phái, Thầy sẽ trọng dụng. Đỗ Thị Du:

Du hành là kẻ bỏ đường tu, Con sáng đừng nghe phỉnh lù mù. Thiệt thiệt hư hư đời dễ thấu, Có khi thấy mực gọi là chu.

Thâu

Samedi 18 Décembre 1926 (14-11-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu nghe dạy: Phải viết thơ cho các Thánh nói rằng: “Buổi lập Luật phải ngưng sự phổ độ lại đôi chút” lo cho xong Tân Luật thì mới truyền bá chơn Đạo rõ lý hơn. Vậy ngày Đại Lễ Thánh Giáo Giáng Sanh phải có mặt tại đây cho đủ và nạp luật cho kịp ngày ấy. Làm lễ xong qua ngày kế thì Chư Thánh mặc Đại phục vào điện bái rồi Hiền Hữu biểu sắp ghế vòng theo Đại điện.

Hiền Hữu và Ngọc Lịch Nguyệt lên tọa bửu vị, rồi theo chức phận Chư Thánh ngồi vòng hai bên như lúc Hiền Hữu còn tại Thượng Nghị Viện đặng cải luật đó vậy. Hiền Hữu Chưởng Quản làm chủ Hội, mỗi vị Thánh đều đặng quyền cải lẽ nghe à.... Phải giữ phép kẻ trước người sau, tùy phiên nhau cho có lễ: Phái Thái trước, phái Ngọc giữa, phái Thượng chót. Phải viết thơ cho Tương và Trang nạp luật cho kịp một lượt với Thơ nghe à....

Thượng Kỳ Thanh bị sụt chức làm Giáo Hữu, như không tuân lịnh xuất ngoại. Thầy cho làm lễ Cầu siêu cho cha Mục Thanh.

Ngày 19-12-1926 (âl. 15-11-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo & Về sự chuyển kiếp của con người và của tà quái. Nếu không tu hành thì không khỏi luân hồi

Dimanche 19 Décembre 1926 (Rằm tháng 11 Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Chúng Sanh, Phân ban. Ngọc Lịch Nguyệt, Lão khen Hiền Hữu hành lễ. Chỉnh đàn Thầy ngự. Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Thơ xin in 2000 Thánh ngôn, 4000 thi văn. Thầy khen con. Đặng. Hương Thanh xin dịch bộ Tam Thiên Thế Giái. Kinh điển dịch đặng bộ nào hữu ích bộ nấy. Thầy cho con song phải đem đến Chưởng Pháp cầu lịnh nghe con.

Thơ xin dịch Minh Thánh Kinh. Cũng phải đem nạp cho Chưởng Pháp phê chuẩn. Tín Nữ cầu Đạo: Nguyễn Thị Yến:

Yến anh phải lỡ lứa khi xưa, Vì chẳng tu tâm tội cũ chừa. Nếu trẻ biết lo trau tánh đức, Vào đường tu niệm khá răn chừa.

Thâu

Nguyễn Thị Sa:

Sa vào đường tội khó nên hiền, Cải ác xưa từng chiếm bực Tiên. Hối hận trăm năm trong một buổi, Thành tâm Thầy cũng nạp lời nguyền.

Thâu

Châu Thị Huê:

Huê đào từ trở sắc tươi cười, Chẳng giữ gìn duyên kẻ một nơi. Thương chẳng ai cầu thương hóa ghét, Lời hay chẳng nạp, chẳng nên lời.

Thâu

Lê Thị Ngần:

Ngần ngại từ đây hết hỏi đon, Thân mình dầu tuyệt Đạo không mòn. Phải duyên kêu khách ngoài ngàn dặm, Lỡ hội đừng mong buổi cúi lòn.

Thâu

Điểm:

Điểm viên một khắc hết hồi mơ, Tưởng tượng chi chi tánh dật dờ. Nửa chiếu không rồi thân phận tục, Đường Tiên ngần ngại bước bơ thờ.

Thâu

Vẹo:

Vẹo trăm nết hạnh kiếp thơ đào, Đừng để thường tình chịu sóng xao. Lỡ lối tang thương thôi phải phận, Cũng căn cũng kiếp buổi xưa sau.

Thâu

Phạm Thị Điều:

Điều đình để bước nguyệt canh thâu, Nét bóng phù du đã đủ màu. Lừa lọc nỗi thân cùng nỗi nợ, Tưởng tình âu yếm dạ thêm đau.

Thâu

Hà Thị Nho:

Nho nhã con tua tập tánh thành, Dưới đời đừng tưởng một mình lanh. Một câu thất đức thiên niên đọa, Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

Thâu

Trần Thị Rạng:

Rạng mình một kẻ biết khôn đời, Ta hỏi cùng ngươi quả thiệt lời. Tánh dữ không trừ Trời với Phật, Than mình nhiều lúc hổn đưa hời.

Thâu

Phan Thị Thôi:

Thôi đừng đeo đắng cái tình đời, Biết tuổi mình xưa khá lánh nơi. Mưa thảm nắng sầu dày dẽ phận, Toan đường đạo đức đến cùng Trời.

Thâu

Trần Thị...:

Gương lành trẻ khá giữ mình hoài, Làm khách Tiên phong biết Thiên Thai. Lợi hám danh ưa tua lánh chốn, So đo sang trọng với Bồng Lai.

Thâu

Lịch, con phải kêu những chư Nhu còn lại hầu bên Nữ phái. Bính xin in kinh tạm và Thánh Tượng chữ “Bài vị”. Đặng con. Thầy dạy Đạo. Tái Cầu: Dimanche 19 Décembre 1926 (Rằm tháng 11 năm Bính Dần). Thầy cho chư Môn Đệ miễn lễ. Bài ban.... Các con nghe. Một sự các con chưa hề biết đến đặng hiểu Đạo là quí trọng dường nào, lo tu tâm dưỡng tánh. Các con đã sanh ra tại thế nầy, ở tại thế nầy, chịu khổ não cũng tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy.

Thầy hỏi các con chết, rồi các con ra thế nào? Các con đi đâu? Chẳng một đứa nào hiểu đặng cơ mầu nhiệm ấy. Thầy dạy: Cả kiếp luân hồi thay đổi, từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn ngàn muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm. Nhơn phẩm nơi thế gian nầy lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng. Đứng bực Đế Vương nơi trái địa cầu nầy chưa đặng vào bực chót của địa cầu 67.

Trong địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẵng cấp dường ấy. Cái quý trọng mỗi địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Đệ nhứt cầu, Tam Thiên Thế Giái. Qua khỏi Tam Thiên Thế Giái thì mới đến Tứ Đại Bộ Châu, qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên, vào Tam Thập Lục Thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đặng đến Bạch Ngọc Kinh là nơi đạo Phật gọi là Niết Bàn đó vậy. Các con coi đó thì đủ hiểu, các phẩm trật của các con có nhiều là dường nào, song ấy là phẩm trật Thiên vị.

Còn phẩm trật Quỉ vị cũng như thế ấy, nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỉ vị, cũng đủ các ngôi các phẩm đặng đày đọa các con, hành hài các con, xử trị các con. Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con, mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó. Thầy đã thường nói: Hai đầu cân không song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý, luật công bình thiêng liêng buộc phải vậy, Thầy lắm phen phải bị mất, bị giựt con cái của Thầy vì chúng nó.

Thầy đã chỉ rõ hai nẻo tà chánh, sang hèn rồi, vậy Thầy cũng chỉ phương hướng cho các con đi khỏi lầm lạc.... Các con hiểu rằng trong Tam Thiên Thế Giái còn có quỉ mị chuyển kiếp ở lộn cùng các con thay, huống lựa là Thất Thập Nhị Địa nầy sao không có cho đặng. Hại thay, lũ quỉ lại là phần nhiều nó bày bố ra mỗi nơi một giả cuộc mà dỗ dành các con. Vì vậy Thầy đã nói tiên tri rằng: Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, lại hằng xúi biểu nó cắn xé các con, song trước Thầy cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Ấy vậy đạo đức các con là phương pháp khử trừ quỉ mị, lại cũng là phương dìu dắt các con trở lại cùng Thầy.

Các con không Đạo thì là tôi tớ quỉ mị. Thầy đã nói: Đạo đức cũng như một cái thang vô ngằn, bắt cho các con leo tới phẩm vị tối cao tối trọng là ngang bực cùng Thầy, hay là Thầy còn hạ mình cho các con cao hơn Thầy nữa. Vậy Thầy lại dặn các con, nếu kẻ không tu làm đủ phận người, công bình chánh trực, khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa, thì biết chừng nào mới hội hiệp cùng Thầy.

Nên Thầy cho một quyền rộng rải cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giái nếu biết ngộ kiếp một đời tu đủ trở về cùng Thầy đặng. Mà hại thay, mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh hoan lạc thấy đặng kẻ ấy. Vậy Thầy dặn: Đạo là nơi các con nên quí trọng đó vậy. Cả chư Thiện Nam hầu Đàn ngày nay Thầy lấy lòng từ bi mà thâu hết.