Q.II · Bài 116–119 · Bính Dần
Ngày 04-01-1927 (âl. 01-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo
Mardi 04 Janvier 1927 (01-12-Bính Dần). Thầy Các con, Trung, hỏi chi con? Trung bạch về sự Cơ Bút tại Trà Vinh.... Thầy hiểu, Tín không tội lỗi chi, duy tại lũ cầm cơ không huyền diệu, dám cả gan học chước muốn làm “ Tả Đạo Bàng Môn”. Thầy đương coi quỉ mị dối danh làm cho chúng nó phải điên cuồng, con phải nói cho Tín nó hiểu. Chi nữa? Trung bạch về sự Giác Hải và Thánh Thất....
Thầy chẳng qua yêu mến Đạo Thuyền, quyết gom tóm các con lại làm một, nên giữ Thánh Thất đến ngày nay đặng qui tụ các em con nó đến cho đủ mặt. Như Thiên Cơ phải y như lời xin của Phổ Hiền Bồ Tát thì chẳng ép lòng bỏ chết phái ấy. Thầy sẽ coi ngày Như Nhãn dời Thánh Thất lại thế nào rồi mới trả. Phần nhiều trong các con chẳng vừa lòng Thánh Thất, nguyện xin trả lại. Thầy sẽ dạy Thơ.
Thái Bạch sẽ lập Thánh Thất theo kiểu vở Thiên Đình. Thầy ban ơn cho các con. Mardi 4 Janvier 1927 (01-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh. Bình thân. Thượng Trung Nhựt, kêu ai cầu riêng việc Lão cho vào.... (Có người lầm Lý Đại Tiên là Thầy...). Lão chẳng phải là Thầy, đừng xưng hô lộn. Đạo muội khá nhớ Hóa đương tìm tòi gặp Chơn Tiên.... Cười....
Hóa:
Hóa đương tìm tõi gặp Chơn Tiên, Đạo muội đừng lo chác dạ phiền. Lưng trống đôi ngày về Đốc Bản, Thìn lòng nhớ lấy Lão lời khuyên. Đửa, từ đây Lão cấm Hiền Hữu uống rượu nghe.... như phạm giái Lão trục xuất nghe à.
Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu không tuân mạng lịnh Lão há? Đuổi Quới nghe à.... Chỉnh Đàn Thầy ngự. Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Chư Môn Đệ Nữ phái thượng sớ. Chư Môn Đệ bình thân. Hiếu hành lễ. Phan Thị Lài:
Lài thơm đâu để mọc ngoài rào, Hiền đức đâu dè đến đổi sao? Chẳng biết tu tâm thân đến thế, Như ao mắc gió mặt lao xao.
Thâu
Lang:
Lang dương gặp lúc gió xuân qua, Cảnh cũ đường xưa lập nghiệp nhà. Mơ mộng đừng chờ Trời để lộc, Sanh tài phải đủ sắc tài ba.
Thâu
Lê Văn Thiệt:
Thiệt hư là tiếng thế đưa oan, Chẳng rõ cho xa để trí bàn. Thương ghét chưa ai đem khỏi sự, Răn đời lấy một tấc gan vàng.
Thâu
Trần Thị Hương:
Hương huê đã nực bóng thiều qua, Tưởng chút nghĩa xưa thắt ruột rà. Cảm lối mây giăng ngô ngã bóng, Tư tư nết hạnh phú trăng già.
Thâu
Lê Thị Số:
Số mạng đào hoa sức gió dồi, Tưởng thân đến thế nghĩ thì thôi. Người sang mình bận điều nhằn nhọc, Phối nghĩa cùng người bạc quá vôi.
Thâu
Nhứt:
Nhứt đem nhẫn mảng độ canh gà, Từ buổi xuân xanh đến tới già. Mang mển nợ đến vai nặng trịu, Còn thân còn chịu mối ta bà.
Thâu
Lưu Thị Chuộng:
Chuộng danh đã đặng gặp danh chưa, Hay nỗi ở ăn của bỏ thừa. Một cảnh một tình xưa chẳng chịu, Mang câu tuyết ngọc ít người ưa.
Thâu
Nguyễn Thị Vi:
Vị tình nên phải phận nghèo hèn, Lòng dạ như dường Lão cũng khen. Rán ở cho bền lòng đạo đức, Đường Tiên sau cũng gặp người quen.
Thâu
Lê Thị Hay:
Hay lo những chuyện gọi bao đồng, Một tánh mạng mình tính chẳng xong. Lo nợ đôi thân đôi ngoại nội, Lo con lo cháu tới lo chồng.
Thâu
Nguyễn Thị Lợi:
Lợi không ích kỷ lợi Trời ban, Phải tính trí kia xử vẹn toàn. Cứu khổ trợ nguy âm chất chuộc, Dầu không ngôi báu cũng giang san.
Thâu
Phan Thị Bề:
Bề ăn cách ở đã an nơi, Cuộc thế dường ni đủ toại rồi. Mua Sở bán Tần nương cảnh thế, Ngàn muôn giàu lớn hạn nơi Trời.
Thâu
Huỳnh Thị Thới:
Thới lai bỏ lúc khổ khi xưa, Những đức tài đông phải tính vừa. Thương khó khá nhìn mình thuở trước, Chơi sang mặt quí giúp cơn mưa.
Thâu
Khu Thị Tại:
Tại hay quá đổi mới hư nhà, Chẳng biết lợp nhà lúc gió qua. Trốc lá như ai chơi khuấy rối, Lủng chuồng kẻ trộm đến quơ gà.
Thâu
Đoàn Thị An:
An bề sửa trấp với nâng khăn, Đã đính nghĩa nhau cũng tiếng rằng. Lo lắng chung cùng lo lập nghiệp, Lo chàng dù lộng thiếp đai cân.
Thâu
Lê Thị Tịnh:
Tịnh tâm con khá gắng công tu, Cái nợ duyên kia chớ vận trù. Kẻ biết Đạo Đời thì ít mặt, Những quân xảo láo hiếm phàm phu.
Thâu
Vựa:
Vựa vàng chưa ắt để cho con, Chứa đức muôn năm hưởng cũng còn. Nếu tính tham tâm giành giựt mãi, Dầu giàu như núi cũng tiêu mòn.
Thâu
Nghĩa:
Nghĩa nhơn con khá giữ lòng lành, Hễ tính sự ra ắt sự sanh. Mình muốn an vui đừng nhọc trí, Ham theo tục thế vụ đua tranh.
Thâu
T oàn thâu: 38 Nam+18 Nữ+17 Thổ nhơn =73.
Ngày 05-01-1927 (âl. 02-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Mercredi 05 Janvier 1927 (Mùng 2-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Thổ nhơn vào hầu. Thâu. Nữ phái thượng sớ. Hiếu Hương hành lễ. Điều:
Điều hay lẽ phải đã tường nghe, Phước tội đôi bên khá dặt dè. Trăm phước chưa hay lòng chí thiện, Lựa là trên gió mảnh hương hoe.
Thâu
Nhàn:
Nhàn trung kiểm điểm sự bình sanh, Gương bể chưa ai kết đặng lành. Muôn đức tiêu hao vì một ác, Chẳng ai giữ vẹn nợ ba sanh.
Thâu
Ca diêu đã ví giấc Nam Kha, Kiếp sống dữ răn nết vạy tà. Chít mát oan gia đôi lứa cách, Chẳng lo tu tánh đặng từ hòa.
Thâu
T oàn thâu: 42 Nam+17 Nữ+3 Thổ nhơn = 62.
Ngày 06-01-1927 (âl. 03-12-Bính Dần): Đức Chí Tôn & Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn & Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Jeudi 06 Janvier 1927 (3-12-Bính Dần). Vĩnh Nguyên Tự. Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Hỉ chư Môn Đệ. Lịch ngã nhậm ngôn. Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn nhập cơ Lê Văn Tiểng. Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn Giáng CƠ Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Chúng Đẳng thính ngã. Đạo bất vị tế hưởng, vi hiếu giả. Ngã thị nhứt sanh bất tri Thiên ý, hành Đạo vô công. Nhị Ngọc Đế ái chư quần sanh như phụ ái tử.
Ngã vấn hà tất, vĩ di công quả hồ? Nhứt nhơn biến nhị, nhị biến thập; thập biến bá, bá biến vạn, vạn biến hằng hà sa số nhơn sanh. Nhơn sanh nhứt nhứt hữu chơn thần. chơn thần thị Thiên; Thiên giả hà tại. Thiên giả tại tâm. Đắc nhơn tâm tấc đắc Thiên ý... tri hề..... Đạo dĩ khai thời kỳ bế môn, tụng niệm di vãng. Cửu thập nhị nguyên nhân kiêm triêu đọa lạc tại thế bất thoát mê đồ.
Bất tri Chơn đạo, đẳng chúng bất độ, hà thế thành Đạo hồ? Vật dĩ cựu luật vi căn bổn hội đắc Tam Kỳ Phổ Độ, nhứt thuyết chúng sanh hữu căn hữu kiếp đắc kỳ qui vị, vật dĩ trí tri văn chương bác ái, ngộ kiếp đắc qui Phật vị. Ngã vấn cổ ngữ hữu ngôn, thiên tâm vô ngữ, luật tại trị thế, nhơn nhơn bất tu bất thành Đạo, tu giả hà vi. T u giả độ nhơn, độ nhơn độ kỷ, độ kỷ độ Cửu Huyền Thất Tổ, thị chi hiếu giả.
Ngã thường giáng cơ tại thử, khả tái cầu giáo Đạo. Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Nhu, Bình thân. Chư Nhu thượng sớ, Thổ nhơn trước.
Thâu
Bính xin thuốc cho chị. Cười..... đau thì uống thuốc, chẳng chi lạ. Kiếm lá cách đốt với da trăn, bỏ vào tán chung lại chưng cách thủy; lấy nước cho bịnh nhân ngậm, nuốt nước lần lần thì khỏi. Thượng sớ. Kỳ:
Kỳ tâm đã sẵn tánh ôn nhu, Đưa bước rừng văn đã tối mù. Đai mão chưa quen đường hoạn lộ, Công linh rèn dạ lắm công phu.
Thâu
Chỗ:
Chỗ riêng chớ để kẻ dòm hành, Thà rách mà cam phận rách thanh. Giữ nghĩa xưa còn chia tấm mẳn, Nay không đành kết bạn đua lành.
Thâu
Hạc:
Hạc mây nhẹ túi gánh phong ba, Biết hết Thần Tiên phải phế nhà. Đặng cảnh Bồng Lai xưa ít khách, Nhẫn ngờ Lục Động bước ta bà.
Thâu
Oai:
Oai linh cửa Đạo sấm rền Trời, Thương kẻ có tròng lại chẳng ngươi. Một trái địa cầu chưa mấy nặng, Nâng luôn thế giái một tay dời.
Thâu
La lết mà theo cũng cuối đường, Thấy người tâm Đạo chạnh lòng thương. Phất trần đưa sẵn bền tay níu, Cửa tịnh đã đành phận náu nương.
Thâu
Hiệp:
Hiệp sức làm đôi tát biển Đông, T uy không phải vợ cũng ông chồng. Riêng lòng thì ắt ra riêng nghiệp, Phải phải phân phân khá giữ đồng.
Thâu
Học:
Học hỏi làng văn rất nhọc nhằn, Cũng như đường Đạo bước xung xăng. Một ngày qua khỏi không lui lại, Kẻ bước khỏi tu hết ngại ngần.
Thâu
Bầu:
Bầu bí chưa ai bỏ lộn giàn, Mình quê chưa ắt biết cao sang. Tẻ vui thú vị riêng mùi hưởng, Đừng tưởng vinh hoa khó phụ phàng. T oàn thâu: 42 Nam+ 7 Nữ+ 17 Thổ nhơn = 66.
Ngày 07-01-1927 (âl. 04-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Vendredi 07 Janvier 1927 (04-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh.
Bình thân. Kêu Thổ nhơn vào. Thâu. Nữ phái thượng sớ. Hiếu Hương, Hiền Muội hành lễ. Trà mi đã ngậm nửa vành rồi, Một kiếp nhơn sanh đến đó thôi. Lo đạo đức dồi lo kiếp tới, Còn chi mong mỏi sự chơi bời.
Thâu
Tý thời nghịch lẫn Ngọ đưa oan, Mấy lúc chung lo cái vẻ nhàn. Nỗi nợ nỗi duyên đưa thảm đến, Thành gia nào kẻ dạ ưu toan.
Thâu
Niên:
Niên canh chẳng hiệp mạng nghèo hèn, Bởi đạo đức nhiều mới lấn chen. Đổi thế chẳng người lo giữ phận, Chánh tâm Thiên Địa để lời khen.
Thâu
Chuốc:
Chuốc trau cho vẹn đạo Tam Tùng, Chẳng quí phận chàng thiếp chịu chung. Hương lửa ba sanh Trời đã định, Căn duyên phải phận giữ cho cùng.
Thâu
Kiểu:
Kiểu chăm gia nội đặng an rồi, Phải biết xét mình đến đó thôi. Sau đặng nên nhà công chớ nại, Khiến điều oan trái chớ than ôi.
Thâu
Sảnh:
Sảnh sẹ hay lo gánh việc người, Công linh chẳng để tỉnh thân ngươi. Quen trò khi bạn lời ganh ghét, Nể mặt không kiêng có Đất Trời.
Thâu
Nguyệt:
Nguyệt tà bóng lặn ngã Tây hiên, Hỏi cớ gì đâu chịu nỗi phiền. Trước chẳng nghe thân đôi lúc khó, Nay đem thân gởi cửa vô duyên.
Thâu
Nguyện:
Nguyện lo cho hết nợ song thân, Cái khó nhọc kia đã định phần. Phẩm gái chưa ai toàn chữ hiếu, Nên mình phải vẹn nợ thâm ân.
Thâu
Nghi:
Nghi nan chớ chác lấy lòng phàm, Hễ biết Đạo mầu mới biết ham. Mắt thịt thấy Trời coi thấp chủm, Hỏi ai cho thấu Đạo khôn tầm.
Thâu
Còn:
Còn thân còn nợ cõi trần nầy, Cứ nhướng mắt tìm cảnh hạc mây. Cõi tục đã rằng là tục thế, Bồng lai nào phải nước non nầy.
Thâu
Tư lự không qua số mạng Trời, Phải tìm cảnh tịnh mới an nơi. Đưa chơn hiềm nỗi đời gai góc, Khó nỗi đi tu khó ở đời.
Thâu
Mực:
Mực ngay khó nỗi đoán cây cong, Biết chút công tu đặng thoát vòng. Thế sự ép oan thêm buộc nghiệt, Đời kia với Đạo chẳng so đồng.
Thâu
Lan:
Lan chung cỏ chạ ít ai tường, Bởi kẻ hiền lương chác nỗi thương. Thương mẹ thương cha thương chủng tộc, Thương Tông thương Tổ hết Môn Đường.
Thâu
Quí:
Quí sang mặc kẻ võng dù riêng, Phận bạc lo cho hết kiếp khiên. Lớn thế tùy người là lớn chức, Mình là phần khó khá tùy duyên.
Thâu
Võ môn mấy lượt đã từng qua, Nên nghiệp giang san bởi chữ hòa. Định thế nên hư lòng chẳng đổi, Đoán thời cách bức lánh chơn ra.
Nước non vùng vẫy đem thân gởi, Vàng đá làu làu tấm thiết tha. Ôm ấp gánh đời đời há biết, Thương lang nước Thánh tấm thân già.
Thâu
Chỗ:
Chỗ hiền khá gởi mảnh thân sau, Chẳng giữ Đạo nên phụ kẻ giàu. Mấy mối oan gia còn trước mắt, Chẳng ghê nghiệp chướng kiếp mình sau.
Thâu
Lễ kinh đã dạy kính nhường người, Cái thói kiêu căng chẳng khó noi. Bực Thánh Châu Công xưa vẹn đức, Nếu kiêu đời chẳng gọi nên người.
Thâu
Khuê:
Khuê tinh chiếu diệu tại Tây phương, Phải biết ăn năn Đạo liệu lường. Phẩm giá người cao sa xuống thấp, Phải coi thời thế lánh tai ương.
Thâu
Sáng:
Sáng trăng nhà nội chẳng hơn đèn, Mặc kẻ cười đời tiếng để khen. Múc biển dùng ngao thương trẻ dại, Láo lua lấc xấc tánh từng quen.
Thâu
Nghĩa:
Nghĩa kia khá trọng quá hơn vàng, Biết đặng mình sang ấy mới sang. Dầu khó bữa mơi lo bữa tối, Nghĩa gìn trọn Đạo ấy giang san.
Thâu
T oàn thâu: 48 Nam+ 14 Nữ+ 7 Thổ = 69.