Q.II · Bài 120–123 · Bính Dần

Ngày 08-01-1927 (âl. 05-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo

Samedi 08 Janvier 1927 (05-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu khá nói cùng kẻ đến đây chẳng tâm Đạo, chỉ đến cầu gia đạo và cầu thuốc, biết rằng: Đây vốn là Đền thờ Ngọc Đế chớ chẳng phải là nhà thương hay là tiệm bói, nghe à!.... Thượng Hoài Thanh! Vì lời nguyện Hiền Hữu, Lão vị đó chút. Hứa Thị Quý:

Long cốt mộc dung bả nhứt chi, Xà bì phàn vị hiệp trần bì. Mật phong tu thủ dung hồi vị, Kỳ thọ hàm dương mãn nhựt thì.

Hứa Thị Mục:

Lao tâm hỏa vọng thượng đầu tiêu, Khả dụng lục căn hiệp mộc điều. Khử hỏa thủy tu tam xích hiệp, Nhãn trung tẩy uế nhựt hoan thiều...

Hứa Thị Lang:

Thanh chi bạch truật hiệp sài hồ, Phấn tuyết tùy thời đải thiệt cô. Nhứt nhựt khả dùng tam đảnh được, Tam viên bất nạp hữu phong hồ.

Trì:

Nể nữ song quang hỏa lậm trung, Bất cầu vượt thế khả Thiên tùng. Nhứt tâm khẩn đảo Cam Lồ thủy, Hòa hiệp nhứt tràng bạch lão ông.

Nghe à... Thượng Hoài Thanh, Hiền Hữu mời phu nhơn của Hiền Hữu kiến ngự Thầy khi chư Nhu xuất ngoại. Tường cũng vậy. Thổ nhơn thượng sớ.... Nữ phái loạn Đàn há? Anh:

Anh phong nhứt thế chiếm quan trường, Hữu thế hữu thời Đạo khả dương. Niên ngoạt nhựt thì Thiên dĩ định, Hữu căn tắc hữu định cao lương.

Thâu

Viết:

Viết thầm thì ắt hóa văn hay, Có chí bình sanh ắt có tài. Muôn một ít đời lòng khá nhớ, Trị nhà phải nhớ nước non dài.

Thâu

An thân ngự đặng chốn cân đai, Hai chữ vô tư rán sức nài. Nở mặt Tông đường gìn đạo đức, Nên mình là biết phận làm trai.

Thâu

Thiền:

Thiền môn hữu số khả trì tâm, Chơn Đạo lưu niên hữu chí tầm. Thánh hạnh mạc vong ưu thế tận, Thiên thơ dĩ hứa phận cao thâm.

Thâu

Vưng:

Vưng theo sở lượng của Thiên Công, Cửa tuyết chen chơn lánh khỏi vòng. Nặng vẻ công danh thêm nặng phận, Thà ôm cầm đến chốn rừng tòng.

Thâu

Tú cẩm chưa khoe đặng rỡ màu, Rán theo đạo hạnh lập thân sau. Nghèo hèn đừng đổi lòng thành thật, Mới đặng khi may mặc cẩm bào.

Thâu

Sum:

Sum sê trước cửa quế hòe đưa, T uổi ấy đi tu gẫm cũng vừa. Mượn nước Cam Lồ lau tục trái, Đường Tiên nẻo Phật sớm đưa chơn.

Thâu

Ngà:

Ngà ngọc chưa phen đổi đức tài, Giá trong ai dám độ nên hay. Mình vàng chưa phải toàn trong sạch, Biết chữ chưa hay đủ gọi tài.

Thâu

T oàn thâu: 30 Nam+ 8 Nữ = 38. Thầy ngự, mời chư Nhu ra hết khỏi Đàn. Đóng cửa lại.

Ngày 09-01-1927 (âl. 06-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo

Dimanche 09 Janvier 1927 (06-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Thượng Trung Nhựt bình thân. Thổ nhơn... thâu. Nữ Thổ nhơn vào. Đem con chúng nó vô. Đem con nó lại gần. Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu khá nói lại với kẻ đến đây chẳng tâm Đạo, chỉ quyết đến bói, ra khỏi Đàn, để Lão đuổi bị nhục đừng trách, Nam Nữ cũng vậy. Kẻ muốn xin Lão chẳng cho; kẻ không xin Lão cho; ấy cũng là một phương pháp phạt răn những kẻ vô Đạo thôi.

Thượng sớ.

Phú:

Phú hữu thiên gia bất thoát trần, Vinh thê ấm tử độ cô thân. Hào gia hữu sở thiên niên đọa, Bất dĩ nhơn sanh, bất dĩ Thần.

Thâu

Nhạn:

Nhạn trầm có thuở nhạn cao bay, Tài đức vinh huê cũng có ngày. Rường cột mặc ai đưa nổi núi, Mình chen vào đám phế cân đai.

Thâu

Hườn:

Hườn hành Hớn thất buổi xưa sao, Chẳng vững giang san chúng đổ nhào. Ít đức Đạo cao thêm vẻ gấm, Thần Tiên Thánh Phật cũng như nhau.

Thâu

Dụng:

Dụng nhơn chẳng khác dụng cây sang, Quí trọng cùng chăng một buổi nhàn. Đế nghiệp vào tay chưa đủ phước, Chẳng bằng vai quảy trọn giang san.

Thâu

Huất:

Uất lòng dễ tỏ đặng cùng ai, Hiền đức mà sao chịu khổ hoài. Lão nói tỏ tường cho đó hiểu, Cũng là một trả đổi xưa vay.

Thâu

Văn:

Văn chương cái thế mãn đời còn, Đức hạnh vững bền sánh nước non. Hai lẽ văn tài đồng đức tánh, Chẳng ngồi bệ ngọc cũng lầu son.

Thâu

Khách Trú Định:

Thiên nhiên tánh đức chí công bình, Hữu số hám tâm thủ địa linh. Qui phục kim môn thân ngọc mã, Chỉ tồn hư thiệt bất quang minh.

Thâu

Viết:

Viết Thiên viết Địa viết nhơn hòa, Mộng mị thế tình ngữ thập đa. Bất kiến kỳ nhơn tâm ái chúng, Thâu danh thủ lợi mảng sinh tà.

Thượng. Thiên:

Thiên căn chánh kiếp chỉ tâm hành, Thán thế bất hòa chỉ cạnh tranh. Bắc hướng loạn ly nhơn thán oán, Hành tàng vấn đắc kiến kỳ thanh.

Thượng. Cho:

Cho bền dạ sắt với lòng son, Non nước xưa kia cũng vẫn còn. Một chiếc xuồng con không chạy biển, Thầm lo chi hiệp giống nòi còn.

Thâu

Phát:

Phát tài cứ tưởng dẫy đầy đầu, Tài có là đâu Đạo ở đâu. Có Đạo không cầu Trời thưởng lộc, Không lo chí thiện mạng không cầu.

Thâu

Khương:

Khương ninh nhứt kiếp tại Thiền môn, Khả chí tâm tu ngã độ hồn. Mạc nại Thiền môn tăng dối thế, Thoát trần chủ định tại Thiên Tôn.

Thâu

Thành:

Thành tâm khả tụng kệ Di Đà, Bất vấn trì môn ngữ thậm đa. Chuyển thế nhứt thời sanh chúng độ, Nhứt môn toàn hiệp Đạo đồng hòa.

Thâu

Nam toàn thâu. Thượng Phẩm Hiền Hữu nhớ: Khi Lão đề “Thất” trước, nghĩa là thơ 7 chữ, Ngũ năm chữ, Tam ba chữ; Bát tám chữ. Dặn Sĩ Tải phải nhớ. Đây:

Đây chẳng phải nhà thầy tiệm bói, Ấy là đèn chói rọi đường tu. Hạnh Tiên xưa lắm công phu, Ngoài tai đã chán mắt mù thấy chi. Việc đời khi....

Thâu

Ngày 10-01-1927 (âl. 07-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo

Lundi 10 Janvier 1927 (Mùng 7-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh. Bình thân. Chư Nhu “giữ lễ nghe”. Thổ nhơn... thâu. Nữ phái thượng sớ. Thượng Phẩm dặn Sĩ Tải nghe. Hiếm: Hiếm sầu bi, Cuộc thế mị, Ham phú quí, Nhiều phen đổ lụy ngậm hờn, Trăm cay ai để gieo đờn tri âm. Ruột gan bầm....

Thâu

Tại:

Tại nơi chít mát bóng tùng, Trần hoàn vì nỗi đau lòng hồng nhan. Chức Nữ khóc thầm biệt Ngưu Lang, Trăng soi thêm chạnh lá gan vàng. Tri hoan rượu chén cờ bàn, Cảm cơn hội hiệp mơ màng lúc ly. Nghe giọng tỳ....

Thâu

Nghe:

Nghe giọng tỳ khêu mấy đoạn buồn, Chạnh cơn thất thố với ly hương. Chim lìa đảnh hạc bay ngơ ngáo, Chiếc nhạn kêu thu đến bến Tương.

Thâu

Vàng:

Vàng chìm đáy biển nghĩ khôn tầm, Biết phận tùy thời chốn gửi thân. Truân chuyên đã bấy nhiêu lần, Nỗi oan chín khúc ruột dần chạnh đau. Cha mẹ nơi nào....

Thâu

Chín:

Chín chữ cù lao, Thì mộng Nam giao, Tịch sinh nan đào, Phi thường một dự anh hào, Đạo trăm hạnh cũng lần vào nẻo Thiên. Đặng trọn quyền....

Thâu

Kiển:

Kiển thanh há sửa bởi tay phàm, Biết Đạo mà sao Đạo chẳng ham. Uổng kẻ nhiệt thành chiu chít phận, Phải duyên có thuở gặp Quan Âm.

Thâu

Vĩnh:

Vĩnh tồn mạng số tới chừng nầy, T u kịp cùng chăng mó đến đây. Khí chất tiêu hao không thế phục, Rán lo âm chất chứa cho đầy.

Thâu

Triệu:

Triệu triệu nam nhi một gánh đời, Chưa rồi công nghiệp đã mòn hơi. Tánh trung cang đó chưa nên mặt, Vì thuở cờ Mao chẳng phải hồi.

Thâu

Hào:

Hào hiệp lòng quen kết nghĩa cùng, Anh hùng tứ hải bước thung dung. Đưa thuyền đầu núi tuy chưa đáng, Cái dạ trượng phu sánh bá tòng.

Thâu

T oàn thâu. Chư Hiền Hữu văn từ dở lắm, trưa bữa nào cũng cầu Lão dạy.

Ngày 11-01-1927 (âl. 08-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch dạy thi văn (Điệu văn Động Đình: Thái Cực) & thâu Môn Đệ và dạy đạo

Mardi 11 Janvier 1927 (08-12-Bính Dần). Thái Bạch Chúng đẳng ngồi kiết tường nghe dạy: Lão viết chậm, Thượng Phẩm Hiền Hữu dặn Sĩ Tải phải viết cho cẩn thận. Lịch rán đọc cho tử tế, bằng chẳng Lão đuổi ra ngoài... nghe à. Điệu văn Động Đình của Lão dạy chư Tiên, chư Phật, sau có truyền cho Bạch Vân Đạo Sĩ gọi là Trạng Trình, song người học đặng có một điệu truyền thế gọi là điệu Bạch Vân.

Lão lấy đề “Ngụ Đời” nghe. Ngụ Đời:

Đời hằng đổi, nước non không đổi, Giữ nhơn luân nhờ mối Đạo truyền. Nhẫng lo trọng tước cao quyền, Đem thân trần cấu gieo miền trầm luân. Biệt cành lá rụng đầy rừng, Con thuyền Bát Nhã lỡ chừng độ duyên.

Sắc, Tài, Tửu, Khí, Lưng vơi lấy chí anh hùng, Mượn gươm Thần huệ dứt lần trái oan. Vụ chữ nhàn.... Giải nghĩa: Thầy là cội, chúng sanh là lá.... Phải lấy chữ anh hùng hoặc nhiều hay ít mà dứt oan trái đặng tu tâm dưỡng tánh, hầu vụ chữ nhàn. Mardi 11 Janvier 1927 (08-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh. Bình thân. Thổ nhơn Nam và Nữ nhập nội đồng quì.

Chư Sơn trước... toàn thâu... lui. Nữ phái thượng sớ. Cân:

Cân câu tội phước sửa mình lành, Cửa ngục Diêm Đình chẳng kể danh. Thế cuộc như trò khoe mắt tục, Tội tình khó rửa với khôn lanh.

Thâu

Rẩy:

Rẩy bái thà quen thú dốt mình, Thà là giữa chợ lắm đua tranh. Nên hư một kiếp nhờ gần gũi, Kẻ thiện học gương đặng sửa mình.

Thâu

Kế trăm chước khéo chẳng bằng hiền, T u bởi biết mình chuộng nết Tiên. Mối Đạo đỡ nâng phàm hóa Thánh, Căn xưa bồi sức giúp lòng Thiền.

Thâu

Vàng:

Vàng tuy quí giá chẳng bằng lòng, Phật tự thuở chừ mến chữ không. Ham lợi hiếp cô đâu phải Đạo, Còn gầy oan nghiệt Đạo chi mong.

Thâu

Liêng:

Liên trì mai nở sắc sen sưa, Cải ác ngày nay nghĩ cũng vừa. Có vị đừng mê phàm mất vị, Thiên Đình phải phận chịu dư thừa.

Thâu

Đó đăng phải giữ phận nghèo hèn, Dầu có rách lành vụ tiếng khen. Thanh bạch một lòng vì đạo hạnh, Có khi lóng đục bởi nhờ phèn.

Thâu

Phượng:

Phượng thờ cha mẹ vẹn đôi bên, Rán chuộc gái ngoan bởi nết hiền. Chẳng đợi người khen Trời thấy bụng, Họa may gỡ vẹn nợ tiền khiên.

Thâu

Bảy: Bảy mươi chưa biết trọn mình lành, Đừng thị khi đời ỷ miệng lanh. Lui. Nhạn:

Nhạn chiu chít phận một phương Trời, Kêu bạn canh tàn chẳng mỏi hơi. Đưa bóng tuyết càng thêm thắt dạ, Thân lao lục chịu lắm mùi đời.

Thâu

Ý chẳng phải tu đến hỏi đời, Ta cho đặng kế thử lòng ngươi. Có nơi chẳng tưởng gầy oán để, Đem tiếng thị phi rải lắm lời.

Thâu

Nữ trung đã trọn một lòng thờ, Trinh liệt giữ bền thuở bé thơ. Nhơn Đạo đã xong lo phận Thánh, Tham chi cuộc thế vọng rồi ngơ.

Thâu

T oàn thâu Nữ phái. Nam thượng sớ. Đâu:

Đâu là cửa Thánh với đâu phàm, Mà cứ để lòng tính tứ tam. Học thiện là nguồn gieo Chánh Đạo, Nghe chi miệng quỉ luận tam xàm.

Thâu

Mẫn:

Mẫn thế khá tua tính ích đời, Ích đời chẳng vụ một mình ngươi. Mình ngươi đặng thỏa trăm người thiếu, Thiếu sót lòng tu chẳng độ đời.

Thâu

Châu:

Châu về hiệp phố buổi xưa sao, Nay nghiệp nhà ngươi có khác nào. Có đức của rơi còn lượm lại, Không duyên phẩm hạnh khó nâng cao.

Thâu

Thiền:

Thiền cao chưa đủ đỡ muôn linh, Như thuở Hạng Vương ở Bành Thành. Chước khéo là thâu lòng với đức, Xưa Tần vong nghiệp bởi không lành.

Thâu

Sơn:

Sơn là cao đã có lời rằng, Ta thấy tên ngươi... nghiến răng. Học hỏi chưa thông ngoài chái bếp, Nhẫng lo cỡi phụng với đua tranh.

Lui. Thay: Thay đời chẳng phải một tên ngươi, Thấy phách lối kia bắt nực cười. Lui. Hào:

Hào phú chưa ai dám sánh bằng, Dầu nghèo mà giữ Đạo làm ăn. Trời soi dạ thẳng trăm oan thoát, Có lúc vinh huê bỏ nhọc nhằn. Thâu. Sau trọng dụng. T oàn thâu, bỏ tên: Thiện, Đào, Đài.