Q.II · Bài 124–126 · Bính Dần
Ngày 12-01-1927 (âl. 09-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch dạy thi văn (Điệu văn Động Đình: Lưỡng Nghi) & thâu Môn Đệ và dạy đạo
Mercredi 12 Janvier 1927 (09-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Nhu, Thượng Trung Nhựt! Hiền Hữu phải dặn Lễ Sanh ra Đại Điện phải đủ lễ, bằng chẳng có ngày Lão cho chư Thần vật chết nghe à. Thượng Phẩm! Hiền Hữu nhớ đã đặng một điệu văn Động Đình rồi, chừng nào đến điệu Bạch Vân, Lão sẽ nói.... # 2: Mến giang san Phế bủa quan Ngừa trị loạn
Xem qua như chốn hí tràng, Lẻ loi mặt nịnh lỡ làng phận trung. Chẳng ai nắm kiếm Thư Hùng, Thành nghiêng khôn đỡ vạt rùng khôn nâng.
Sĩ dân, Soái Tướng, Quân Thần, Chinh chuyên thay! phận phàm nhân, Đỡ nương chẳng biết dựa gần người binh. Nghe thấy bắt động tình. Chú giải: Rùng là sung sướng. Thư Hùng Kiếm của Trương Tử Phòng dâng cho Hàn Tín. Cái phận phàm nhơn chịu lắm nỗi chinh chuyên. Mercredi 12 Janvier 1927 (09-12-Bính Dần). Thái Bạch Chư Nhu thượng sớ.... Bình thân. Thổ nhơn..... thâu. Lão dặn phải nhớ nghe, cái tượng của Lão tại Điện ngó thấy mọi kẻ như người sống kia vậy, nghe à....
Hổ ngươi đừng cố tội khi xưa, Cải hóa ăn năn lỗi cũ chừa. Trước mắt Thần Tiên chưa dễ dấu, Lẽ thường nào dứt nắng cùng mưa.
Thâu
Sàng:
Sàng lấy gạo trơn bỏ trấu ra, Nay qui Tam Giáo cũng in là. Giác đời cậy một lòng thành thật, Trừ tuyệt tiêu điều lũ quỉ ma.
Thâu
Mơn:
Mơn lòng cho thuận tấm chơn linh, Quyết đoán đừng theo thói thế tình. Lấy mắt thiêng liêng xem Thánh Đạo, Đừng ngờ ngoài ngõ đón yêu tinh.
Thâu
Hương:
Hương huê quá giấc chẳng lui chơn, Chẳng phải khó thân để bụng hờn. Nguồn cội khá gìn lòng hiếu hạnh, T u thân trước phải sửa nhà hơn.
Thâu
Tri:
Tri cơ phải kiếm thấu cơ mầu, Hỏi thử Đạo nầy gốc bởi đâu. Bởi kiếp nhơn sanh bày biến dữ, Nên Trời xuống phước vớt con hư.
Thâu
Bản:
Biểu đừng tham phú lại khi bần, Cái phận nếu hiền dựa các lân. Trăm chước không nên vì khiếm đức, Hư như cơ nghiệp của nhà Tần.
Thâu
Thôi:
Thôi thì phận vậy cũng là an, Đủ mặc đủ no kiếm chữ nhàn. Đường thế trông qua nhiều khúc mắc, Đưa chơn thử viếng núi Kỳ San.
Thâu
Soạn: Soạn sành lại đủ nét nhà ngươi, Sợ nói ra đây chúng xúm cười. Lui. Cơ:
Cơ Trời xây đổi lập Tân Dân, Cái hủ tệ xưa phải bỏ lần. Đừng ỷ văn chương khi ngoại vật, Trên đầu người hỏi chẳng lời phân. Phải sửa mình. Thâu.
Đâu:
Đâu là phước tội phải phân minh, Biết tội phước kia phải xét mình. Trước muốn hại người mình hỏi thử, Như ai toan chước hại nơi mình.
Thâu
Liền:
Liền nhành xưa đã thệ cùng nhau, Sao nỡ để gương kép hại đào. Mở lối vườn xưa ong vắng dạng, Hại người uống thảm với ăn đau.
Lui. Đeo:
Đeo đai chi lắm cái oan gia, Mà chẳng nghĩ thương nối nghiệp nhà. Chia sướng sớt vui ai khác hưởng, Trêu hờn nuốt thảm một mình ta.
Thâu
Lợi:
Lợi lộc công danh đã thấy chi, Đày thân tóc quắn với da chì. Cơm ngày hai bữa vừa no dạ, Bạc chứa vàng chôn chẳng ích gì.
Thâu
Thành: Thành tâm sám hối một đôi ngày, Cải quá những lời chú nói sai. Lui. Tiếc:
Tiếc công trước với mẹ cùng cha, Hỏi thử chú em đã biết nhà. Dựa khách chê thân mang tội trọng, Về lo cho đặng tiếng từ hòa. Đợi trở lại sẽ thâu.
Mạnh:
Mạnh đặng yếu thua ấy lẽ thường, Phải lo đồng chủng để lòng thương. Phò nguy trợ yếu anh hùng chí, Giúp khó làm nên ít thấy thường.
Thâu
Niên:
Niên canh chẳng hạp phận nghèo hèn, Biết Đạo như vầy Lão cũng khen. Rửa sạch lòng trong nhờ nước Thánh, Soi lòng minh mẫn phải nhờ đèn.
Ngày 13-01-1927 (âl. 10-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch dạy thi văn (Điệu văn Động Đình: Tứ Tượng và Bát Quái) & thâu Môn Đệ và dạy đạo
Jeudi 13 Janvier 1927 (10-Tháng Chạp Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Nhu, Ngồi kiết tường. Hộ Pháp Hiền Hữu ngâm hai bài trước, Thượng Phẩm Hiền Hữu hãy đề hai bài số 1 và số 2 Lão còn kết. Chú giải: Chinh chuyên: chinh là nghiêng; chuyên là chở. Chở nghiêng nghĩa là chở nặng nề. Thần Huệ Kiếm: Huệ trí vỉ vi kiếm tác Đạo giả: Lấy huệ trí làm gươm mà hành Đạo... # 3:
Dân dưới phép tụng đình, Nước dưới phép đao binh. Nhà dưới phép luật hình, Còn chi hai chữ thái bình. Ngửa nghiêng chín bệ gập ghình ba châu, Non sông nhuộm một màu sầu. Nền giao cỏ láng sân chầu sương phong, Dân chẳng hiệp đồng, Quan chẳng vị công, Vua chẳng phải giòng, Về Đông hết kế Tử Phòng, Đoạt binh thơ chẳng Trương Tòng mưu mô. Tiếc thay một gánh cơ đồ, Xa thơ khuất dấu ngọn cờ bặt tăm. Nòi anh phong đó, cơ nghiệp hỏi ai cầm?
Cũng xương, cũng thịt, cũng khí, cũng huyết Nam, Cũng văn, cũng pháp, cũng phong, cũng tục Nam, Cũng xã tắc, cũng triều đình của nhà Nam. Ngôi Tiên đã lấm gót phàm, Kẻ chăn dân lại ra làm con buôn. Dân như cá chậu gà chuồng, Tiếng oan trăm họ trêu buồn ngậm than.
Bát Quái:
Quốc gia nghèo nàn, dân khó mở mang, Lăng điện phá hoại, Văn miếu bỏ hoang, Trí quân lánh mặt, hồn nước điêu tàn. Gặp cơn xúi ác giục loàn, Người ngay tránh dạng, đứa gian khoe mình. Tỷ như một đám bù nhìn, Cân đai một vẻ thân hình một nơi. ... Ấy cũng gọi đời.......
Lão dặn Thượng Phẩm phải biên số, là vì điệu văn Động Đình chẳng phải mỗi điệu vậy là dứt, Lão còn kết thêm nữa. Tỷ như:
Bài số một, gọi là điệu Thái Cực. Bài thứ nhì, gọi là điệu Lưỡng Nghi. Bài thứ ba, gọi là điệu Tứ Tượng. Bài Lão nói là điệu Bát Quái. Vậy Lão làm tiếp rồi sẽ chỉ....
Bài số 4:.... Hộ Pháp giải nghĩa.... Vậy thì gọi là điệu Thái Cực là sao? Lão chỉ cho Thượng Phẩm: - Đọc bài số 1, khi nhập đề như vậy, thì là không không, chưa hiểu căn cước đề thân, thì gọi là nhập: Hư Vô. Thái Cực là vì đó một tiếng. Nhập lại Hư Vô. Bài số 2 ba tiếng là Tam Giáo. Sĩ dân hai tiếng ấy là Lưỡng Nghi. Bài số 3, ngũ ngôn ấy là Ngũ Chi. Bốn chữ... Tứ Tượng là đó. Bài số 4, chín chữ là Cửu Lưu đó.
Tám chữ... ấy là Bát Quái. Lão sẽ tiếp điệu Biến Hóa Vô Cùng rồi mới kết cho toàn điệu. Chư Đạo Hữu lấy điệu văn ấy làm ra mỗi người một bài cho Lão sửa. Phải tùy theo từ chữ, từ giọng, vậy mới trúng niêm luật; bài của Lão chỉ dùng làm kiểu đó thôi... Jeudi 13 Janvier 1927 (10-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Thổ nhơn nhập nội... Thâu. Như ai có đến nữa thì nói rằng: Chẳng bao lâu thì chư Đạo Hữu đến Soài Riêng... nghe à.
Chư Tín Nữ thượng sớ. Thái Bính Thanh hành lễ... Tường... Cười.... Xuyên:
Xuyên sơn viễn vọng đến nơi đây, Lẽ phải khuyên em rán đợi Thầy. Chưa hiểu rõ cùng nền Đạo cả, Bến Tre có thuở đặng sum vầy. Thâu K ỉnh.
Ác ai để mặc kẻ lo toan, Miệng thế đừng nghe tiếng luận bàn. Kẻ dại mình khôn dìu dắt dẫn, Thương sanh phải độ đến nơi Đàn.
Thâu
Út eo nhưng hiểu giữ bền lòng, Trinh liệt thờ chồng đã gắng công. Buổi nhọc đã qua trong lúc sướng, Từ xưa công thưởng trả vay đồng.
Thâu
Hơn:
Hơn người chẳng phải dụng mưu hay, Đức phục nhơn tâm mới thiệt tài. Thuận dưới hòa trên nhà sắp đặt, Đạo mầu đừng vội trễ nay mai.
Thâu
Chua:
Chua cay em đã lắm mùi đời, Chẳng biết buổi nào đặng thảnh thơi. Nặng chở thuyền con không chắc vững, Thương thân khá phú tại tay Trời.
Thâu
Kinh:
Kinh tâm có nhớ lúc xưa chăng? Mà đến không lo nết sửa răn. Mối nợ chưa rồi không lánh mặt, Thừa ưa đừng tưởng việc đời rằng.
Thâu
Thân:
Thân chưa hết nợ dễ chi tu, Thà gánh cho kham phận mịt mù. Biết Đạo khó gìn mang lỗi trọng, Về lo tập tánh đặng ôn nhu.
Thượng. Nguyên:
Nguyên nhân thân lại quá như phàm, Vì lợi cũng tranh, danh cũng tham. Ăn bóc chưa hay dơ ngón bóc, Ham phàm ắt phải lụy cùng phàm.
Thâu
Sửu:
Sửu niên chẳng vẹn nội nhà mình, Dầu đến đã đành phận hiển vinh. Chức Giáo Hữu ban lo đạo đức, Phải truyền chơn Đạo độ nhơn sinh.
Thâu
Tùng theo thì thế lập thân danh, Cửa Đạo gởi thân gẫm đã đành. Dạy kẻ đặng lành hiền chức sẵn, Chẳng ai tranh cạnh chẳng ai giành.
Thâu
T oàn thâu. Thái Bính Thanh, Hiền Hữu khá dặn những kẻ thờ Tà Thần Tinh Quái nhớ từ bỏ chúng nó nghe.
Ngày 14-01-1927 (âl. 11-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Vendredi 14 Janvier 1927 (11-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Bình thân. Thâu Nam Nữ Thổ nhơn. Thái Bính Thanh, Hiền Hữu dặn chư Sơn Thổ nhơn nán lại nghe dạy. Thảm thay! Thảm thay! Cũng bởi thất kỳ truyền nên tu hữu công mà hành Đạo chưa hề thấy. Lão sẽ xin lịnh Thầy hội chư Sơn Thổ nhơn lại đây trong tháng ba đặng truyền Bửu Pháp cho chúng nó luyện Đạo.
Thầy thế nào cũng buộc chúng nó trường trai. Tường, nói lại với chúng nó. Chư Nữ chức Minh Đường nhập nội. Nếu Lão chẳng sai kêu thì chắc Hiền Muội không đến há?.... Cười...
Trăm ngàn đức tánh chỉ minh tâm, Đạo đức thương em một mối cầm. Thành đọa chẳng vì trong lực thế, Than ôi! huyền diệu chẳng ai tầm.
Thầy dạy Lão phải lập phái Nữ cho thành tựu. Em gắng lo phổ độ nhơn sanh. Cửu nhị nguyên nhân hãy còn trong vòng hắc ám, chẳng lẽ em biết Đạo ngồi đó cho đành. Lão trông công em. Xin em lui. Sơ nghe dạy: (Trần Văn Sơ, Kinh Hối Sa Đéc) Trầ n Hiền Hữu, Lão chào bạn. Lão giục Hiền Hữu lên đặng thọ chức trước ngày cải luật. Thiên danh Hiền Hữu phải lấy Ngọc Sơ Thanh.... Lão phong Hiền Hữu chức Giáo Sư phái Ngọc, khá tận tâm hành Đạo nghe à!
Hiền Hữu lui.... Nữ phái thượng sớ. Thống:
Thống tâm biết bấy lúc đau lòng, Cơ nghiệp chừng nầy ngó trống không. Hơn thiệt mặt đời mình chịu ép, Chỗ dư chỗ thiếu trả không đồng.
Thâu
Thê:
Thê thằng tử phược tiếng đời rằng, Chồng bậu cũng vì chịu khó khăn. Cực nhọc chẳng chia nhau chút ít, Mà còn tính thiếu lại đua ăn.
Thâu
Chối:
Chối ai đâu dễ chối cùng Trời, Biết Đạo răn mình đã hết hơi. Từ bỏ lần lần điều lỗi trước, Tự nhiên biển khổ lánh xa vời.
Thâu
Chiếu:
Chiếu diệu thinh không một tấc thành, Làm cho cám động tấm lòng anh. Trao gươm Thần huệ đôi lời dặn, Chặt đứt oan khiên giữ dạ lành. Thâu. Sau trọng dụng.
Tròn:
Tròn méo chi chi cũng nợ đời, Muốn lừa muốn chọn liệu nên nơi. Cửa Trình dầu đói nên no Đạo, Đáy biển lòng người khó nổi soi.
Thâu
Màng:
Màng chi những tiếng thị phi khùng, Mà để xiêu lòng mất tín trung. Nghe thấy đủ điều toan trí tính, Mới là thấu đáo việc đời cùng.
Thâu
Biết:
Biết đời phải quấy biết nên hư, Biết tội lỗi kia phải biết trừ. Chẳng có điều nào đời gọi khó, Trong điều dễ khó để lòng tư.
Thâu
Thu:
Thu ba đã quá lúc đua đường, Chưa biết giựt mình kiếm dựa nương. Cân chữ sắc tài đời kém mặt, Trông trăng đừng vội gấp soi gương.
Thâu
Thu, dặn có vào Thánh Thất, từ đây phải giữ mình trinh sạch, đừng tưởng ngoài chợ muốn làm chi cũng đặng nghe... Lui Nữ phái. Bên Nam phái có một đứa vào đây thử Đạo, Lão khuyên nó lui ra, kẻo phải chết một cách thê thảm nghe. Thôi:
Lượng trên đã phú một tâm linh, Phải biết cân đo nết thế tình. Mỗi ám tinh khôn đưa tiếng trách, Phật Trời mở mắt ngó anh linh.
Thâu
Đuổi những kẻ đứng gần Đại Điện. T oàn thâu.