Q.I · Bài 36–39 · Ất Sửu–Bính Dần

Đầu tháng 02-1926 (âl. 12-Ất Sửu): Đức Chí Tôn dạy đạo

Thầy Minh:

Một cuộc phồn hoa biếc sắc xưa, Niên cao trở gót thảm khi vừa. Công danh đã đủ còn mơ ước, Một cuộc tang thương đã thấy chưa?

Gia đình oằn oại gánh đôi vai, Thế cuộc nên hư cũng một tay. Chưa mãn xuân mai đơm lá bích, Ngày xuân đừng ỷ phận còn dài.

Chưa biết buổi đua chen, mà đã gặp nhiều khi thất nguyện. 01-02-1926 Thầy Cư, Tắc: Hai con ham cười, Thầy sẽ cho cười một phen cho đã, lập chí cho nghiêm, phòng sau mới dạy người nghe hai con. Trung xin phép cho Cư, Tắc vô cùng Thầy xin độ Tương, Kiêm. (Nghĩa là qua tháng 2-1926 mà anh Phủ Tương chưa nhập môn, nên anh Cả xin cho hai ông Cư, Tắc độ Tương là cớ ấy). Thầy “Mừng thay” chớ!

(Mỗi lần Thầy giáng thì đọc bài

“Mừng thay”, nay ba ông quên đọc Thầy nhắc). Dạy trẻ con toan trước dạy mình, Cái công giáo hóa cũng đồng sinh. Đạo đời tua biết đời rằng trọng, Một điểm quang minh một điểm linh.

Nghĩa là sắp nhỏ của con dạy, sau cũng nên người ở đời, ấy là đời nếu biết trọng đời thì gắng dạy nó nên hiền. Một điểm quang minh là một hồn người, là vật tối linh của Thầy trân trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn ấy đặng hiền.

Đêm 12-02-1926 (âl. Đêm 30 tháng chạp Ất Sửu): Đức Chí Tôn Thi

Đêm 30 tháng chạp Ất Sửu (dl. 12-02-1926) Thầy Cho Ông Cao Quỳnh CƯ

Sắp út thương hơn cũng thế thường, Cái yêu cái dại mới là thương. Thương không nghiêm trị là thương dối, Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.

Cư, Tắc, Sang! Trong năm mới này Thầy trông mong ba con rõ thấu đạo đức hơn nữa, gắng chí nghe! Thầy Cho Thi Quan phủ Vương Quang Kỳ

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân, Niên đáo tân hề Đạo giữ tân. Vô lao công quả tu đương tác, Niên quá niên hề Đạo tối tân.

Thầy Cho Ông Lê Văn Giảng

Trần tục là nơi chỗ biển buồn, Nghe nơi Đại Đạo rán nghe luôn. Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó, Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn.

Thầy Cho Ông Nguyễn Trung Hậu Tự Thuần ĐỨC

Thuần phong mỹ tục giáo nhơn sanh, Đức hóa thường lao mạc vị danh. Hậu thế lưu truyền gia pháp quí, Giáo dân bất lậu, tán thời manh.

Thi

Đã có căn phần dựa cảnh Tiên, Bước đời chớ quản bậc sang hèn. Mưa mai nắng xế chờ qua khỏi, Đêm tối lần ra gặp ánh đèn.

Đức Chí Tôn (24-6-1926) Thi Cho Thanh Thủy (Cao hoài Sang)

Bước đời chìm nổi bấy nhiêu niên, Tâm chí ghe phen dập lửa phiền. Ấm lạnh dốc tròn gương phấn đại, Vui buồn chưa vẹn nỗi hàn huyên.

Lòng trần nung nấu trăm mùi khổ, Biển ái đầy vơi một chiếc thuyền. Nín nẩm chờ ngày tiền quả sạch, Trau giồi đạo hạnh hưởng ân Thiên.

Diêu Trì Nương Nương (3-7-1927) Thầy Cho Thi Ông Đoàn Văn Bản

Thương thay trung tín một lòng thành, Chẳng kể quan mà chẳng kể danh. Thiệt thòi bấy phận không con nối, Thấy rứa lòng Ta cũng chẳng đành.

Thầy Cho Thi Ông Lê Văn Trung

Đã thấy ven mây lố mặt dương, Cùng nhau xúm xích dẫn lên đường. Đạo cao phó có tay cao độ, Gần gũi sao ra vạn dặm trường.

Thăng

Ngày 13-02-1926 ( âl. 01-01-Bính Dần) giờ Tý: Đức Chí Tôn giáng dạy về cơ Phổ hóa

Khuya mùng 1 Tết năm Bính Dần (13-2-1926), giờ Tý, tái cầu Đức Thượng Đế giáng dạy rằng: Đức, Hậu tập cơ sau theo mấy anh mà độ người nghe và tuân theo. Ấy là lời Thánh giáo và ngày kỷ niệm khai Đạo Cao Đài về cơ Phổ hóa, ngày mùng 1 Tết năm Bính Dần giờ Tý vậy (13-2-1926).

Ngày 21-02-1926 (âl. 09-01-Bính Dần): Đức Chí Tôn dạy đạo và bài thi kỷ niệm chỉ tên 12 người Môn Đệ đầu tiên

Qua đến ngày mùng 9 tháng Giêng (21-2-1926), nhằm ngày Vía Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Quan Phủ Vương Quang Kỳ có thiết Đàn riêng tại nhà ông số 80 đường Lagrandière (bây giờ là đường Gia Long). Đêm ấy có mời Chư Nhu và mấy vị Đạo Hữu hầu Đàn, Thượng Đế giáng cơ dạy như vầy:

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa, Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà. Chung hiệp rán vun nền đạo đức, Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu. Thầy vui muốn cho các con thuận hòa nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh Đạo Thầy. Đạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh gỗ nghe. Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn. Ngày kia sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy. Khi ấy, Quan Phủ Ngô Văn Chiêu xin Thượng Đế lấy tên mấy người đệ tử mà cho một bài thi kỷ niệm.

Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh, Bản đạo khai Sang Quí Giảng thành. Hậu, Đức, Tắc, Cư thiên địa cảnh, Hườn Minh Mân đáo thủ đài danh.

Thượng Đế lại phán: “Hườn, Minh, Mân sau sẽ rõ...” Nguyên 12 chữ lớn trong ba câu trên là tên của 12 vị Môn Đệ trước hết của Thượng Đế. Có hai tên Sang, Thầy điểm chung một tên. Còn ba chữ lớn câu chót là tên ba vị Hầu Đàn.