Q.I · Bài 27–35 · Ất Sửu

Ngày 01-01-1926 đến ngày 07-01-1926 (âl. tháng 11-Ất Sửu): Đức Chí Tôn khởi sự dạy Đạo

Thầy

Con hiểu Jésus là ai chăng? Trước Ta đã đổ máu cho loài người vì thương yêu. Nay Ta đến cứu loài người cũng vì thương yêu. Bây đủ thương yêu Ta dường ấy chăng? Ta cần bây biết ăn năn hầu cứu chữa bây.

Vendredi 1er 1926 Thầy Cư, Tắc! Hai con đừng lấy làm việc chơi nghe; Thầy dặn hai con một điều, nhứt nhứt phải đợi lệnh Thầy, chẳng nên lấy tứ riêng mà phán đoán nghe. Phận sự hai con, trách nhậm hai con Thầy đã định trước song ngày giờ chưa đến phải tuân lời Thầy nghe. Từ đây, Thầy khởi sự dạy Đạo cho. (1) 2 Janvier 1926 (1) Xin quí ông nhớ ngày 02-01-1926, Thầy khởi dạy Đạo. Thầy khen hai con tụng kinh.

Thầy đã nói A.Ă. là Thầy, còn Cung Diêu Trì là Cung Diêu Trì các Thánh đều có quả, ấy là những Đấng Thầy lựa sai đến dạy dỗ mấy con, đừng triệu thường, vì mỗi người đều có phận sự. Chư Tiên và Chư Thánh đều có quả, song đừng triệu về mà chơi, kỳ dư có điều gì học hỏi. 4 Janvier 1926 Mme Cư bạch với Thầy rằng: – Má con mắc ở xa làm sao con đi độ được. Thầy: – Hiếu! Con biết một lòng tu niệm đạo đức của con đủ cứu Cửu Huyền Thất Tổ rồi, huống là mẹ con, để Thầy định đoạt con đừng lo buồn.

Cư! Thầy khen con đó, cử chỉ xử đời của con. Tắc! Thầy dặn con đừng buồn rầu mà lo lỗi Đạo để cho Thầy định liệu, nghe và tuân theo. Jeudi 7 Janvier 1926

Ngày 11-01-1926 (âl. 27-11-Ất Sửu): Đức Chí Tôn cho thi khi ông Lê Văn Trung nhập môn cầu Đạo

Thầy (Le 11 Janvier 1926 là ngày ông Lê Văn Trung đến nhà Cao Quỳnh Cư hầu Đức Chí Tôn để nhập môn cầu

Đạo ở Sài Gòn). Già trí đừng lo trí chẳng già, Lương tâm mình biết hỏi chi xa. Thềm đầu Trời ngó lòng Nhơn Đạo, Hư thiệt rồi đây cũng biết mà.

Ngày 13-01-1926 (âl. 29-11-Ất Sửu): Thất Nương, Lục Nương thi

Thất Nương

Người vô tình kẻ bạc tình, Ba anh chẳng nghĩ nghĩa đồng thinh. Đặng chim trách kẻ toan quên ná, Buồn bực cho đây vẫn một mình. Thử lòng tri kỷ đó mà thôi, Tương ngộ có hơn bảy tháng trời. Yêu mến một lòng đây rõ biết, Thỉ chung đâu để hổ cùng lời.

Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang hỏi Thất Nương: – Anh trách sao em không nói thật A.Ă. là ông Trời, em thấy ba anh cũng như mù em cứ gạt hoài! Thất Nương: – Trời là Trời, em là em. Em rõ biết nhưng không dám lậu, nay ba anh đặng vậy em mừng. Lục Nương (Mừng ba ông hiểu Đạo)

Mừng nay đường Đạo đã êm chơn, Vàng ngọc công khanh chẳng dám hơn. Rượu cúc Bàn Đào chờ hội ẩm, Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

Bồng Lai vắng mặt Tiên buồn nhớ, Dinh đảo nghiêng vai Thánh khảy đờn. Trước chẳng giữ ngôi, ngôi mới mất, Cân phân thế tục phẩm chi sờn.

13-1-1926 (Cầu Kho)

Ngày 14-01-1926 (âl. 14-12-Ất Sửu): Đức Chí Tôn, Hoa Nhất Nương, Bát Nương thi

Thầy

Thành tâm niệm Phật, Tịnh, tịnh, tịnh, tịnh, tịnh. Tịnh là vô nhất vật, Thành tâm hành Đạo.

Ông Đốc Bản xin chấp bút (Cầu Kho) Thầy Bút nở mùa hoa đã có chừng, Chẳng như củi mục hốt mà bưng. (1) Gắng công ắt đặng công mà chớ, Buồn bực rồi sau mới có mừng. 14-1-1926 (1) Ông Đốc Bản xin chấp bút, Thầy cho bài thi nầy ám chỉ Thầy định cho ai thì nấy đặng, chớ không phải ai cũng có thể cầu cơ chấp bút đặng. Thầy Cho ông thầy thuốc Tri

Đặng ngọc mà chê ngọc chẳng lành, Đường Tiên chẳng lựa, lựa đường danh. Môi cầu chí quyết xua Hiền Thánh, Lòn lõi vùa sang bụng chẳng đành.

Thầy

Cầu y càn huyết bịnh từ vương, Trần thế biết Ta hỏi mối đường. Văn chất chưa hay Trời nhỏ phước, Đôn rằm người bịnh khỏi tai ương.

(Con gái ông Phán Lê Tấn Sang ở Phan Thiết, đau hai bên gò má sưng lớn, cô nầy cầu Thầy xin thuốc. Thầy cho bài thi rồi Thầy dặn coi bốn chữ đầu mà cầu thầy thuốc. Người con gái ấy lên Docteur Trần Văn Đôn chích thuốc ít bữa mạnh). Hoa Nhất Nương Em cám ơn hai anh, em xin hai anh hãy gắng công học Đạo, dưỡng luyện tinh thần, ắt ngày sau đắc Đạo. Coi bửu vị làm trọng, đừng ham luyến hồng trần mà phải đọa.

Đôi lời thành thật, xin hai anh thương tình gìn giữ, mắc hầu, em không thể nán lại lâu, em xin kiếu, lâu lâu em sẽ nói rõ. 14-1-1926 Bát Nương Em mừng hai anh và Đại Tỷ (Nguyễn Thị Hiếu).

Em buồn cho Thanh Thủy không đến. Nỗi phận vô duyên phận chẳng đành, Trách ai mộ thói yến cùng anh. Nương mây đợi mỏi lòng tình ái,

Mượn ngọc trông ngơ tấm liệt trinh. Vuốt dạ riêng đau người một cảnh, Dằn thương cố nhớ buổi chung tình. Nhắn mưa gởi gió bâng khuâng để,

Một tấm tơ duyên đứt đoạn gìn.

Ngày 16-01-1926 (âl. 03-12-Ất Sửu): Quí Cao thi văn

QUÍ Cao Đã lâu mà không dám nói, vì em còn phải tu như hai anh vậy. Không dám nói vì hai anh có Thầy, em không dám lộng quyền.

T u như cỏ úa gặp mù sương, Đạo vốn cây che mát mẻ đường. Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng, Đôi năm mệt nhọc vạn năm bường. Có Thần nuôi nấng Thần càng mạnh, Luyện Khí thông thương Khí mới tường. Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn, Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương. Phương: Là hướng, là đường đi. Tường: Là lành. Bường: Là bình. Tịnh mẫn: Là êm sáng. Nhập thể: Đem thần sáng vào mình đặng êm sáng.

Từ đây, xin Nhị huynh hỏi Thầy, đừng hỏi em, em nói mà phạm tội. Em xin kiếu. 16-1-1926 QUÍ Cao Ngũ kỵ: Hành, tỏi, xả, ớt, tiêu. Theo Phật Giáo thì kỵ, Tiên Giáo thì không. Phật vì tích Thanh Đề Mục Liên gọi là uế vật... là phi, Tiên Đạo cho dùng các thảo mộc, chẳng kỵ vật chi. 16-1-1926

Ngày 21-01-1926 & 23-01-1926 (âl. 08 & 10-12-Ất Sửu): Đức Chí Tôn thi

(Có người Đạo Phật đến hầu Thầy) Thầy Ngươi muốn biết Đạo Ta, nghe dạy:

Thiệt thiệt hư hư dễ biết chăng, Hành tàng chơn Đạo gọi sao rằng. Khai Thiên lập Địa ai là chủ, Thánh, Phật là ai dám đón ngăn.

Bản, Kỳ, Trung, Cư, Tắc nghe dạy:

Mặt nhật hồi mô thấy xẻ hai, Có thương mới biết Đấng Cao Đài. Cũng con cũng cái đồng Môn đệ, Bụng muốn phân chia hỏi bởi ai?

Thầy

Chín Trời mười Phật cũng là Ta, Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba. Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ, Thánh, Tiên, Phật Đạo vốn như nhà.

Ngày 27-01-1927 (âl. 14-12-Ất Sửu): Đức Chí Tôn và các Đấng khai đàn Cao Quỳnh Cư

QUÍ Cao

Buồn xa cách mặt dễ xa lòng, Nhờ dạy thi văn mới đặng ròng. Cái nghĩa đệ huynh là nghĩa trọng, Thâm tình cố cựu mấy thu đông.

Thất Nương

Bạc tình chi lắm hỡi ai ơi! Bảy tháng chung vui đã mất rồi. Khi hứng trăng thơ khi gió sách, Đèn khua nay luống một mình thôi.

Giải nghĩa: Thất Nương nói thử với ba ông, vì khi Phật Mẫu và Cửu Vị Nữ Phật đến độ ba ông trong bảy tháng, xong rồi thì giao lại cho Đức A.Ă. và quí cô phải đi phổ độ nơi khác, nên bà Thất Nương lâu giáng buồn mới có bài thi trên đây. Mme Cư hỏi: – Hôm nọ chiêm bao ngó thấy em ló mắt dòm chị và cười, phải quả vậy chăng? Xin nói lại cho chị mừng. Thất Nương: – Đại Tỷ sẽ nghe em nói riêng.

Cao Quỳnh Cư: – Thôi em nói với Đại Tỷ. Thất Nương: – Không nói, anh nghe khính. Ông CAO HOÀI SANG (Hòa nguyên vận bài thi của Thất Nương trên đây)

Phải nào bạc bẻo hỡi em ôi! Vì phận nghĩa kia xử khó rồi. T uy chẳng gần nhau như buổi trước, Lòng kia quyết giữ đến cùng thôi. Hay lắm! Cám ơn Tam Ca, Còn Đại Ca và Nhị Ca.

CAO QUỲNH CƯ

Chạnh lòng Hiền Muội xót thương ôi! Nhắc nhở khôn nguôi những chuyện rồi. Bảy tháng gấm thêu lời nhỏ nhẹ, Ghi tâm khắc cốt trọn đời thôi.

Em tưởng ba anh quên em rồi chớ, buồn quá! Trước sao thì sau vậy, lòng thương tưởng ba anh em chẳng quên, Em buồn là từ đây ít đặng gần gũi nhau nữa. Em mắc lo cứu độ nơi khác, phận sự phải vậy. Em xin kiếu. 27-1-1926 Lục Nương Chào ba anh và Đại Tỷ. Thanh Thủy nóng biết, em xin cạn bày:

Công quả ngày xưa thiệt chẳng hèn, Nợ trần bước tục phải đua chen. Võ đài chờ trả rồi oan trái, Xủ áo phồn hoa lại cảnh Thiên. Em mừng ba anh đặng gặp nguồn Đạo.

Bát Nương Mừng ba anh và Đại Tỷ. Thanh Thủy thế nào Lục Nương mách miệng, cứ do theo thi hành cho kịp hai anh. Em xin hiến ba anh một bài:

Chờ về vắng bặt tiết thu qua, Tiếng nhạn kêu sầu tiếng thiết tha. Vườn trước ngơ trông cây liễu rũ, Non xưa chạnh nhớ bóng trăng tà.

Thi đề thảm lóng hơi oanh thán, Cầm trổi buồn nghe tiếng dế hòa. Dậm thẳng lương nhân xin khá gắng, Đường dài nghĩa nọ dễ đâu xa.

Thất Nương Em chào ba anh và Đại Tỷ. Hèn lâu em không chuyện vãn cùng ba anh. Em xin ba anh coi lại thế đời dường nào? Cái bông Phù Dung sớm còn tối mất, còn hơn một kiếp con người, vì nó sống ngắn ngủi dường ấy, nhưng mà buổi sống còn có cái sắc, chớ đời người sanh ra chỉ để thọ khổ mà thôi. Chung qui ngó lại dầu sống trăm tuổi chưa được một điều đắc chí; chết là hết, cái đời tạm nầy sách Phật gọi là khổ hải.

Em xin ba anh coi sự trường sanh của mình làm trọng, người không có phải kiếm, mình có sẵn nỡ bỏ đi, em chỉ tiếc dùm đó thôi. Đã vào đường chánh cứ do đó bước tới hoài thì trở về cựu vị đặng. 27-1-1926 M. Lê Văn Trung hỏi: – Có duyên luyện Đạo cùng chăng xin em mách dùm. – Đã gặp Đạo tức có duyên phần. Rán tu luyện siêng thì thành, biếng thì đọa, liệu lấy mà răn mình. Phải sớm tính một ngày qua, một ngày chết đừng dụ dự.

Em xin kiếu. 27-1-1926 Khai đàn Cao Quỳnh Cư Thầy

Đã để vào tòa một sắc hoa, Từ đây đàn nội tỷ như nhà. Trung thành một dạ thờ Cao sắc, Sống có Ta thác cũng có Ta.

Đài sen vui nhánh trổ thêm hoa, Một Đạo như con ở một nhà. Hiếu nghĩa tương lai sau tụ hội, Chủ trung Từ Phụ vốn là Ta.

Lý Bạch

Có công phải biết gắng nên công, T u tánh đã xong tới luyện lòng. Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục, Đơn tâm khó định lấy chi mong.

Thầy

– Hay! Hay lắm đó ba con. Cư bạch: – Thầy khen ba con về việc chi hay? – Tụng kinh. – Tắc, hết Cư rồi tới Tắc.

Nó thật thà, vả lại nó còn xác thịt cũng như hai con, ai dưới thế nầy đặng trọn vẹn, hai con chỉ tên cho Thầy biết; duy có một mình Thầy đây mà thôi, mà Thầy là Thầy của hai con, nếu giỏi học theo mới đặng mảy may chút ít. 27-01-1926

Ngày 28-01-1926 & 29-01-1926 (âl. 15 & 16-12-Ất Sửu): Đức Chí Tôn dạy đạo

Một ngày thỏn mỏn một ngày qua, Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa. Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ, Cửa Thiên xuất nhập cũng như nhà. Cương tỏa đương thời đã giải vây, Đừng mơ oan nghiệt một đời nầy. Hữu duyên độ thấu nguồn chơn Đạo, T u niệm khuyên bền chí chớ lay.

Thầy vui vì các con thuận hòa cùng nhau. Thầy muốn cho các con như vậy hoài, ấy là một lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Trung! Thầy khen con đó. 29-1-1926 Cư, Sang, Tắc muốn theo anh con vào xem Hội Minh Lý. Kỳ (1) có con Thầy mới cho ba đứa nó đi... con, con chỉ những sự bái quị của Thầy buộc thế nào và cắt nghĩa cho nó hiểu. (1) Anh Phủ Kỳ: Những sự bái quị bên Minh Lý lạy đủ 12 lạy, còn bên Tam Kỳ Thầy cho mỗi lạy 4 gật, thì 3 lần đủ 12 lạy.

Ngày 31-01-1926 (âl. 18-12-Ất Sửu): Đức Chí Tôn khai đàn cho M. Phủ Kỳ & Đức Chí Tôn khai đàn cho M. Trung

Khai đàn Cho M. phủ Kỳ Thầy

Cao mấy từng mây lố mặt Trời, Đài sen vui nở nhánh bông tươi. Đạo mầu cậy gã truyền nhơn sự, Dạy trẻ cho an lấy Đạo Đời.

Thầy Thầy vui mừng các con. Trung, con thờ Thầy trên hết là phải, con đem tượng Quan Trường qua bên tay trái Thầy, còn Quan Âm bên mặt. Con thờ Lý Thái Bạch dưới Thầy. Đại Từ Phụ con

hiểu lòng thương là bực nào? Tắc! con không có miệng phải không? Thầy viết, con phải cần Thầy để dạy dỗ, đừng ngại. Cư hỏi: – Thưa Thầy, con chấp bút chưa đặng.

Khai đàn Cho M. Trung Thầy

Một Trời một Đất một nhà riêng, Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền. Cầm mối Thiên Thơ lo cứu chúng, Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên. Tắc, có tuân mạng lệnh Thầy chăng? Thầy có cấm con đừng dự việc hội đàm chăng? Con sắp đặt hoàn thành rồi thối chức.