Thi Văn Dạy Đạo — Phần 1

Dồn dập tương tư oằn một gánh, Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai. Trời già đành đoạn nợ ba sinh, Bèo nước xẻ hai một gánh tình.

Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỉ, Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình. Người thì Ngọc mã với Kim đàng, Quên kẻ dạ đài mối thảm mang.

Mình dặn lấy mình, mình lại biết, Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

Ký tên: ĐOÀN NGỌC QUẾ Bà Bát Nương giáng làm thi vấn đề “Tiễn biệt tình lang” dưới đây:

THI

Chia gương căn dặn buổi trường đình, Vàng đá trăm năm tạc tấm tình. Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế, Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

Ngày chờ mây áng ngàn dâu khuất, Đêm bặt đèn khuya một bóng nhìn. Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn, Xa xuôi ai thấu nỗi đinh ninh.

BÁT NƯƠNG

HOẠ VẬ N

Ình ình trống giục thảm trường đình, Đau nỗi chia phôi một chữ tình. Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng, Phụng lầu gác quyển đợi hòa thinh.

Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó, Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn. Kẻ ở phương trời người góc biển, Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

QUÍ CAO

`Ngày 14 tháng 7 năm Ất Sửu (dl. 31–08–1925).

NHÀN ÂM ĐẠO TRƯỞNG

THI

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng, Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân. Rượu cúc một bầu trăng gió hứng, Non sông dạo khắp lối đêm xuân.

Rằm tháng 7 năm Ất Sửu (dl. 01–09–1925), vì có sự thành khẩn nên Lục Nương giáng cho bài thi sau nầy:

THI

Im lìm cây cỏ vẫn in màu, Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu. Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc, Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.

Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng, Thỏ ngọc trau gương dậm vẻ làu. Non nước đìu hiu xuân vắng chúa, Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

LỤC NƯƠNG

Giải nghĩa hai câu thứ 5 và thứ 6 của bài thi:

Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng, Thỏ ngọc trau gương dậm vẻ làu. Trường quang: Ánh sáng mặt trời. Kim mã là ngựa vàng tức mặt trời. Ngọc thố là mặt trăng (Thỏ ngọc). Có nghĩa là ngày giờ qua mau, rất lẹ.

THẤT NƯƠNG

Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân, Cảm tình trông đợi dạ ân cần. Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng, Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

Thu về ngắm cảnh dạ buồn tanh, Nhớ đạo nghĩa nhau T… xúc tình. Động cũ vườn tòng sầu biếng trổ, Non xưa rừng bá thảm buông mành.

Phong trần thương kẻ mang thân đọa, Bồng đảo vì ai giữ tấc thành. Một bóng luống chờ ngày tái ngộ, Chơn thần gìn đặng vẹn tinh anh.

BÁT NƯƠNG

Động đình chạnh lúc tạm chia đường, Bốn giọt nhìn nhau lối rẽ cương. Trời thảm mây giăng muôn cụm ủ, Biển sầu nước nhuộm một màu thương.

Cờ thần nhớ buổi vầy đôi bạn, Tiệc ngọc nào khi hội nhứt trường. Mượn vận lương nhân xin nhắn nhủ, Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.

QUÍ CAO

Tử sanh dĩ định tự thiên kỳ, Tái ngộ đồng hoan hội nhứt chi. Bắc Ngụy quan văn tâm mộ hữu, Giang Đông khán thụ lụy triêm y.

Thất Nương giải nghĩa hai câu chót:

Bắc Ngụy quan văn tâm mộ hữu, Giang Đông khán thụ lụy triêm y.

Khi Như Hoành ở Bắc Ngụy đi thuyết chiến bên Giang Đông gặp Bạch Hàm thì tâm đầu ý hợp, kết làm anh em.

Như Hoành than rằng: Bắc Ngụy văn thiên thụ. Bạch Hàm than rằng: Giang Đông nhứt mộ vân.

Nghĩa là:

Ngó Bắc Ngụy nghe ngàn cây đưa tiếng bạn, Nhìn Giang Đông thấy khóm mây vẽ hình anh.

VỊNH MAI

Mai là cốt cách liễu tinh thần, Thi thiệt hồn mai, tuyết ấy trần. Mai tuyết không thi mai tuyết não, Thi không mai tuyết thế không xuân.

9–12–1925

Mai đeo tuyết ngọc biết bao lần, Tuyết vẽ mày mai thắm thía xuân. Xuân có tuyết mai xuân hiệp tuyết, Tuyết mai vầy bạn xúm chào xuân.

Cũng đồng địa vị cũng đồng đường, Hứng tuyết tìm mai dưới giọt sương. Mai tuyết hiệp đôi mai tuyết đẹp, Tuyết giành trong sạch, mai giành hương.

Nhơn vô tùng thế đắc tùng Thiên, Ưu lự trần gian ý vị nhiên. Mạc hối tiền trình căn dĩ định, Tự nhiên dĩ hậu phản như tiền.

14–10–1925

Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài, Bởi đức ngày xưa có buổi nay. Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc, Gìn lòng tu tánh chớ đơn sai.