Bài 11 — Thuyết đạo tại Đền Thánh, đêm 04 tháng 11 năm Mậu Tý (04–12–1948)

Dương lịch: 04–12–1948 · Âm lịch: 04 tháng 11 năm Mậu Tý

Đền Thánh, Tòa Thánh Tây Ninh

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

Trước khi giảng tiếp về Cung Hi ệp Thiên Hành Hóa, chúng ta còn một vấn đề rắc rối trong cuộc thiệt chiến của các Chơn-Linh lập đạo. Đó là vấn đề con người và “Tứ Khổ”9. Các Chơn-Linh đến trần này, mang cái xác phàm, tức nhiên xác thú của họ, nương theo luật tấn hóa để lập thiêng liêng vị của mình. Có một điều mâu thuẫn hơn hết là muốn đoạt thiêng liêng vị xứng đáng thì phải giải quyết vấn đề “Tứ Khổ”.

Sanh ra trong vòng tứ khổ, chúng ta không thể gì tránh tứ khổ đặng. Mang xác phàm phải chịu khổ với phàm mới đoạt được thiêng liêng vị. Theo luật tấn hóa trong kiếp sanh thì ai cũng phải chịu khổ như nhau. Nhưng các Chơn-Linh đoạt đến Tiên Phật vị có đủ can đảm, có đủ nghị lực, có đủ oai quyền ngó ngay tứ khổ để quyết thắng. Hại thay, một số Chơn-Linh không đủ can đảm và nghị lực để đạt địa vị trọn lành 13.

Bởi cớ muốn đạt địa vị trọn lành thì họ phải tìm hạnh phúc trong cảnh khổ. Chúng ta đều ngó thấy con cá bị 8 thiệt – cái lưỡi. Thiệt chiến – tranh cãi, tranh luận. 9 Còn gọi Tứ Diệu Đề, Tứ Diệu Đế, Tứ Đế. Là bốn nỗi khổ của con người (sinh ra, già đi, bệnh tật, chết đi) nhốt trong chậu, con chim bị nhốt trong lồng, con người bị nhốt trong tứ khổ, tất cả đều muốn tìm kiếm phương thế đặng thoát ra.

Thật vậy, tứ khổ là cái lồng, cái khám và Chơn-Linh ta giống như con thú kia đang vùng vẫy thoát cảnh khổ. Dầu thoát không đặng mà nó vẫn tìm thế vùng vẫy để thoát cho đặng. Các Chơn-Linh đầu kiếp 2 mang lấy xác phàm nơi Càn Khôn Vũ Trụ này đều biết rõ “Tứ Diệu Đề”, nên họ phải tìm phương thế đặng thoát khổ. Chúng ta nên hiểu là luật thiêng liêng đã định như vậy. Riêng Bần Đạo đã hiểu tấn tuồng ấy rồi.

Khi con người tìm phương thế giải khổ không đặng, thì họ kiếm phương thế tự an ủi lấy mình, tức nhiên tìm mảy may 4 hạnh phúc để cho mình đỡ khổ. Có nhiều khi chưa tìm đặng hạnh phúc để cho đỡ khổ thì lại mắc thêm tội tình nữa mà chớ. Cho nên khi biết mình không đủ can đảm và nghị lực, các Chơn-Linh cao siêu 5 ấy không dám đứng ra đối mặt với Tứ Diệu Đề. Bây giờ chúng ta cũng nên ngừng bước lại đặng tìm hiểu cái hạnh phúc thật sự của loài người là gì và có phương thế nào thắng cảnh khổ đặng chăng?

Hạnh phúc trong cảnh trần 6 là gì? Chúng ta nên kiếm hiểu vì có hiểu rõ thì mới giải quyết vấn đề thắng khổ đặng. Chúng ta ngó thấy từ thử đến giờ thiên hạ chỉ toàn mơ ước hạnh phúc mà thôi. Bần Đạo nhớ đạo giáo của chúng ta có kể một câu chuyện ngộ nghĩnh, nhưng chứa đựng một triết lý rất cao siêu. Có một Chơn-Linh kia phải xuống địa ngục. Đến chừng đền tội xong rồi, Diêm Vương cho đi đầu kiếp thì Chơn-Linh ấy cự nự, xin Diêm Vương thoả cho mấy điều kiện thì mới chịu đi đầu kiếp.

Diêm Vương hỏi: – Ngươi muốn xin điều gì? Chơn linh ấy nói: – Cho tôi xin bốn điều. Anh đọc lên bốn câu thơ: Cha Thượng Thơ, Con Trạng Nguyên, Quanh nhà ngàn khoảnh nhứt hạng điền, Trai tơ gái lịch vợ tốt hầu xinh thảy thảy đều. Diêm Vương nói chưa chắc. Nếu có cho ngươi cũng chưa chắc có hạnh phúc vinh hiển đâu. Cha Thượng Thơ con Trạng Nguyên 10 tức nhiên linh hồn ấy muốn làm Trạng Nguyên con của một vị Thượng Thơ.

Chưa chắc gì vị Trạng Nguyên ấy gặp được người cha là một vị quan thanh liêm, đạo đức đâu. Thoảng gặp vị Thượng Thơ gian ác, tham lam, hối lộ, có nên đầu kiếp làm con ông ta hay chăng? Chơn linh ấy vẫn cầu xin cho mình được làm 7 tôn giáo (nói chung). 8 không ch ịu làm theo. 9 Thượng Thư, chức vụ dưới quyền Vua ở Việt Nam ngày xưa, tương đương Bộ Trưởng ngày nay. 10 người thi đậu h ạng nhất trong kỳ thi cao cấp tuyển chọn quan chức cho các Vua ở Việt Nam ngày xưa. quan, mà nhứt định phải là Trạng Nguyên mới được.

Suy cho kỹ thì thi đậu Trạng Nguyên rồi cũng chưa chắc gì có hạnh phúc. Như ông Nguyễn Hiền thi đậu Trạng Nguyên lúc mới 13 tuổi. Nhưng tuổi còn nhỏ lắm không xuất sĩ đặng, phải đợi tới 16 tuổi mới ra triều. Nhưng đến 21 tuổi lại bệnh chết. Thử hỏi ông Nguyễn Hiền có hạnh phúc hay chăng? Dám chắc chưa có. Đến câu thứ ba: Quanh nhà ngàn mẫu nhứt hạng điền. Nghĩa là quanh nhà có ngàn khoảnh ruộng tốt nhứt hạng đặng sau này làm giàu.

Thử hỏi như vậy có hạnh phúc chăng? Bất quá thoả lòng tham của thôi, chớ chưa chắc có hạnh phúc. Câu thứ tư: Trai tơ gái lịch vợ tốt hầu xinh thảy thảy đều. Trai trẻ gái đẹp, tức nhiên đệ nhứt trong thiên hạ rồi. Nhưng mà điều đó có tạo hạnh phúc đặng hay chăng? Chưa chắc. Cuối cùng là khoản vợ tốt hầu xinh thảy thảy đều. Vợ tốt hơn mình thì nó ăn hiếp mình. Nó cậy nó sang, nó đẹp hơn mình.

Nó biết mình thương nó quá, nên nó cậy thế nó đè đầu mình xuống nó dọi đầu mình. Duy có câu thảy thảy đều là nghe hay hơn hết thảy, mà cũng chưa chắc tạo hạnh phúc được. Ấy vậy từ thử đến giờ cả thảy đều hiểu dầu cho bực Đế Vương cũng chưa chắc đoạt được hạnh phúc trong kiếp sanh. 5 cú đầu, khỏ đầu (ý nói ăn hiếp, bắt n ạt, lấn lướt) Các nhà hiền triết Nho Tông Việt Nam ta có để lại một lời khuyên trọng yếu 7.

Muốn lập quốc, muốn tạo hạnh phúc cho quốc dân 8 phải đáp ứng ba điều kiện: “Thiên thời, địa lợi, nhơn hòa ”. Ấy vậy chúng ta kiếm thử coi trong ba điều kiện đó có phương thế gì giải khổ hay chăng? 1. Thiên thời tức nhiên theo mạng Trời. Trời đã định cho mình tức nhiên mình phải tùng mạng Trời. Tùng mạng Trời tức nhiên tùng đạo. Muốn có thiên thời thì phải tùng đạo. Điều đó không thể gì chối được. 2.

Địa lợi là gì? Là cả thảy địa dư toàn trong nước phải tạo đều kiện cho người dân sống sung túc. Bực thượng lưu trí thức cần nên suy nghĩ kỹ lại coi câu ấy dành cho ai. Quốc Vương không thể tạo ra địa lợi, mà phải có nhơn tài đạo đức tạo mới được. 3. Nhơn hòa đặng chi? Nếu cả thảy không có hoà thuận thì xảy ra loạn lạc. H ễ loạn lạc thì có giặc giã chiến tranh. Ấy vậy từ thử đến giờ có ba điều đặng tạo hạnh phúc cho quốc dân.

Mà có phương thế tạo đặng hay chăng? Có thể tạo đặng chớ. Nhưng chúng ta thử... nghĩ lại coi, giờ phút này nhơn loại đương bị dọa nạt trận giặc thứ ba. Đã hai phen rồi, hai trận chiến tranh thiên hạ chết muôn trùng vạn điệp. Nhơn loại sống làm gì mà phải chịu khổ nạn ấy. Có phải nhơn loại thực sự muốn tìm hạnh phúc chăng? Đây là một bằng cớ hiển nhiên: toàn cả quốc dân Việt Nam đương tìm hạnh phúc trong lý thuyết mơ mộng mà thôi.

Cũng giống như chánh phủ Hồ Chí Minh đương tìm hạnh phúc trong lý thuyết chớ không có gì là thực hết. Nhìn toàn cầu đương khởi chiến tranh, Bần Đạo dám chắc là không có ai thực sự muốn tìm hạnh phúc cho nhơn loại cả. Nếu có đi nữa thì cũng chỉ phô trương lòe loẹt một mớ lý thuyết gì đó để xúi giục người ta giết lẫn nhau. Đã hai phen người ta cũng hô hào là muốn tạo hòa bình hạnh phúc cho nhơn loại nhưng đều đã thất bại rồi đó.

Hại thay, tinh thần của nhơn loại bây giờ đang thống khổ. Dám chắc dầu không khổ nhơn loại cũng không biết nghe theo thánh giáo, tự giác sửa mình để tìm hạnh phúc chơn thật. Họ cứ chạy theo cái hạnh phúc giả dối, nên Thánh Gandhi 5 rồi Thánh Dalagadot cũng bị kẻ ác tâm ám sát do tranh sống. Đương nhiên bây giờ, thống khổ của nhơn loại nhìn thấy quá rõ ràng, nên để kiếm thế giải quyết người ta lập ra một cơ quan chăm lo cho hạnh phúc của 5 còn gọi là Thánh Cam Đ ịa, người đã giúp Ấn Độ dành độc lập bằng phương pháp bất b ạo động (không dùng sức m ạnh, không đánh đập, không quân đội, không súng đạ n) loài người, đó là Hội Quốc Liên.

Nhưng Hội Quốc Liên đã làm được gì chưa? Cũng chưa gì hết. Bởi vì có nhiều nguyên căn cho nên Garry Davis 8đã thay mặt cho loài người đến giữa Hội Quốc Liên đặng hỏi: “Có thể bảo trọng hòa bình cứu nhơn loại đặng chăng?” “Garry Davis” chiến tướng kêu gọi nhơn loại theo anh, mà nhơn loại có nghe không? Chính mình Bần Đạo cũng theo nữa. Đừng nghe theo những lý thuyết mờ ám, như thuyết Cộng Sản hoặc thuyết này thuyết nọ đặng tìm hạnh phúc cho loài người.

Bởi càng đi tìm theo kiểu đó chừng nào thì càng đau khổ cho nhơn loại chừng nấy. Bần Đạo nói như vậy để cho thiên hạ suy nghĩ xem tìm hạnh phúc chơn thật như thế nào? Kỳ tới Bần Đạo sẽ giảng thêm. n 6 là tổ chức Liên Hiệp Quốc ngày nay. 7 lý do, nguyên do. 8 Garry Davis (1921-2013) người vận động cho hoà bình nổi tiếng khắp thế giới. 9 người đấu tranh kiên trì. Bài 12 ĐỨC HỘ PHÁP