Q.I · Bài 6–7 · Ất Sửu

Tiểu sử xây bàn

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ (Đệ Tứ Niên) TÒA THÁNH TÂY NINH TIỂU SỬ Thượng tuần tháng 6 năm Ất Sửu (1925) ông CAO QUỲNH CƯ đến nhà ông CAO HOÀI SANG thăm chơi, để cùng ông Cao Hoài Sang và ông PHẠM CÔNG T ẮC hàn huyên tình đời thế sự, vì ông Phạm Công T ắc cũng ở gần nhà ông Cao Hoài Sang bên cạnh chợ Thái Bình dãy phố hàng Dừa Sài Gòn. Hết hồi đàm đạo với chén trà câu thơ, giờ càng khuya, ông Cao Quỳnh Cư dường như có Thần linh thúc giục hay vì linh tánh kích động mới nghĩ ra việc xây bàn tiếp xúc với các vong linh khuất mặt, thì hai ông Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang cũng đồng tình hưởng ứng.

Ba ông mới đem ra trước hiên một cái bàn vuông bốn chân (1) rồi cả ba đồng để tay lên bàn; chưa mấy phút thì cái bàn rung chuyển liền một cách nhẹ nhàng và nhanh chóng, dường như hăm hở lắm vậy. Tiếp đó bàn bắt đầu nhịp chơn gõ chữ. bàn gõ một tiếng các ông đọc A, hai tiếng đọc B, cứ như vậy đến khi bàn ngưng lại tại chữ gì thì lấy chữ đó, và cứ như vậy ráp vần thành ra chữ và thành câu có ý nghĩa.

Đêm ấy có nhiều vong linh nhập bàn viết tiếng Anh, Pháp và Hoa, cũng có vong linh học sinh Hà Nội viết tiếng Việt Nam. Buổi xây bàn đêm ấy là lần đầu tiên, có lẽ là có chư vong muốn nhập và tranh nhau nói chuyện nên làm xáo trộn, cái bàn gõ khi chững chàng, khi lựng khựng, làm cho ba ông càng ngạc nhiên lại thêm chán nản nhứt là ông Cao Quỳnh Cư nghi rằng có hồn ma hay ngạ quỉ vô phá phách, liền đó ông đề nghị không tiếp nhận các vong linh đó và đồng cùng hai ông ngưng việc xây bàn.

Qua đêm sau, nhằm ngày 6 tháng 6 Ất Sửu (26-071925) ba ông lại tiếp tục xây bàn nữa, vì tánh ba ông cũng hiếu kỳ muốn hiểu rõ hiện tượng kỳ lạ này coi tại sao cái bàn linh động nhanh nhẹ và viết thành chữ nhiều thứ tiếng, và có ý nghĩa nữa. Đêm nay ba ông không gặp trở ngại nào mà lại tiếp đặng một bài thi bát cú, tự thuật:

Thi

Ly trần tuổi đã quá năm mươi, Mi mới vừa lên ước đặng mười. Tổng mến lời khuyên bền mộ chép, Tình thương căn dặn gắng tâm đời.

Bên màn đôi lúc trêu hồn phách, (2) Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi. Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm, Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời. Ký tên: Cao Quỳnh Tuân (Thiên Đình) Cao Quỳnh T uân chính là phụ thân của ông Cao Quỳnh Cư, ly trần hơn 25 năm về trước. Đọc tới câu thứ bảy ông Cao Quỳnh Cư quá mủi lòng cảm động, lúc nầy hai ông Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang cũng bùi ngùi; ông Cao Quỳnh Cư vội thốt: Thưa Thầy(3), ngày mai con nấu một mâm cơm cúng, con kính thỉnh Thầy về chứng lòng thảo của con.

Vong linh nhập bàn, liền chuyển cái bàn, ngỏ ý khứng lời mời của con và kế đó vong xuất. Sau khi tiếp đặng bài thơ Đường luật, vừa cao sâu vừa thâm thúy vì quá hiển hích đúng với lời của một từ phụ nhắn nhủ lại cùng con, tinh thần trí não của ba ông càng thêm bấn loạn, vừa ngạc nhiên, vừa cảm phục văn chương và ý nghĩa bài thơ. Qua đêm mùng 10 tháng 06 Ất Sửu (30-07-1925), nghĩa là bốn đêm sau, ba ông cũng họp lại tại nhà ông Cao Hoài Sang mở cuộc xây bàn nữa, kỳ này cái bàn lay chuyển một cách khoan thai, dịu dàng đoán chừng như bóng dáng của một vị Tiên Nga hạ trần, thì ra lời đoán không sai vì đó là vong linh một Nữ linh giáng Đàn cho thi.

Thi

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai? Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài. Những ngỡ trao duyên vào ngọc các, Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.

Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi, Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai. Dồn dập tương tư oằn một gánh, Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai?

Ký tên: Đoàn Ngọc Quế Cũng trong đêm nầy chúng tôi hỏi cô Đoàn Ngọc Quế đau bệnh chi mà thác, cô cho hai bài thi tiếp theo:

Trời già đành đoạn nợ ba sinh, Bèo nước xẻ hai một gánh tình. Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỉ, Khiến ôm mối thảm lại Diêm Đình.

Người thời Ngọc mã với Kim đàng, Quên kẻ dạ đài mối thảm mang. Mình dặn lấy mình, mình lại biết, Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

Ba ông họa bài thi bát cú của Đoàn Ngọc Quế dưới đây: Họa vận

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai, Trời xanh vội lấp nữ anh tài. Tình thâm một gánh còn dương thế, Oan nặng ngàn thu xuống dạ đài.

Để thảm xuân đường như ác xế, Gieo thương lữ khách ngóng tin mai. Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế, Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai.

Phạm Công Tắc ***

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai, Mộ người quốc sắc đấng thiên tài. Nhìn văn độ phẩm hàng khuê các, Xót bạn tri âm cõi dạ đài.

Ngàn dặm hoa trôi sầu cụm trước, Một mồ cỏ loáng ủ nhành mai. Cửu tuyền hồn Quế linh xin chứng, Rằng liễu khóc oanh có mấy ai.

Cao Quỳnh Cư ***

Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai, Nông nổi nghĩ thôi tiếc bấy tài. Ngọc thốt dám bì trang tuấn kiệt, Vàng rơi riêng chạnh khách Chương đài.

Những ngờ duyên thắm trao phòng Bích, Hay nỗi xương tàn xủ giậu mai. Một dải đồng tâm bao thuở nối, Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai.

Cao Hoài Sang Ông Cư hỏi: Đoàn Ngọc Quế hồi còn tại thế xứ ở đâu? Đáp:...... Ở Chợ Lớn. Hỏi:...... Cô học ở đâu? Đáp:...... Học ở trường Đầm. Bữa sau ông mời ông Phạm Công Tắc và ông Cao Hoài Sang ra nhà ông xây bàn (xây ghế) đặng mời Đoàn Ngọc Quế về dạy làm thi. Ba ông cứ hỏi cô Đoàn Ngọc Quế những việc Thượng giới thì cô cũng khứng giải cho hiểu việc Thiên cơ chút ít, nhờ cô Đoàn dùng huyền diệu độ ba ông và bố trí cho ba ông ham việc Thiên cơ hơn trần thế.

Ban ngày làm việc, ba ông trông mau tối để thỉnh bàn ra trước hàng ba, tắt đèn điện phía trước đặng cầu hỏi Cô Đoàn những việc cõi trên, và mỗi đêm mỗi cầu cô về giải nghĩa mấy bài thi. Khi thì cô giáng, có bữa các Đấng giáng. (Xin xem tới mấy trang sau, có bài thi của quí cô và các Đấng cho, mà có giải nghĩa và dạy nhiều điển tích rất cao siêu nhiệm mầu). Đoàn Ngọc Quế gọi ông Cư là Anh Cả, ông Phạm Công Tắc là Nhị Ca, ông Cao Hoài Sang là Tam Ca, cô để cô là em thứ tư (Tứ Muội). Ý tứ bài thơ của cô Đoàn Ngọc Quế lạ thường hay lắm thật là tuyệt bút.

Nhớ lại hồi hạ tuần tháng 7 năm Ất Sửu (1925), ba ông thỉnh bàn ra (lúc này hơi in như say Đạo) tính xây bàn cầu cô Đoàn về dạy văn thi, ba ông để tay thì dở bàn lên bổng có một ông giáng, tôi hỏi tên gì, thật rất lạ...... xưng là A.Ă. gõ làm một bài thi dưới đây:

Thi

(Chí Tôn đến xưng là A.A.Â)

Ớt cay cay ớt gẫm mà cay, Muối mặn ba năm muối mặn dai. Túng lúi đi chơi nên tấp lại, Ăn bòn chẳng chịu tấp theo ai.

Ông Phạm Công Tắc nghe dứt câu liền nói với ông Cư rằng: – Thôi anh, ai đâu mà nói tiếng gì khó nghe quá, sao lại không có tên xưng là A.Ă.Â. Ông Cư nói với ông Phạm Công Tắc: – Ậy, em ngồi lại cho qua hỏi, vị nầy không phải tầm thường đâu em. Ông Cư hỏi: – Ông A.Ă. mấy chục tuổi? Ông A.Ă. gõ bàn, đếm hoài không ngưng, đếm đến mấy trăm cái mà cũng không thôi. Liền đó ông Cư ngưng lại không dám hỏi nữa, và kiếm hiểu ông nầy ở trển chắc lớn lắm.

Từ đó về sau có vị nào giáng cho thi thì ông cầu ông A.Ă. xin giải nghĩa. Lối cuối tháng 7 năm Ất Sửu (1925) ba ông hỏi cô Đoàn Ngọc Quế rằng: Em còn có chị em nào nữa biết làm thi em mời giùm, nói ba anh em qua có lòng ngưỡng mộ học làm thi, xin cầu khẩn quý cô đến dạy ba anh em qua làm thi. Cô Đoàn Ngọc Quế trả lời: Có chị Hớn Liên Bạch, Lục Nương, với Nhứt Nương làm thi hay lắm.

Ba ông rất mừng, nên tính mời quý cô ngày Rằm Trung Thu, vì là ngày tiết trăng thanh gió mát, ngày ai cũng thích đi ngoạn cảnh ngắm trăng (chưng cộ đèn). (1) Cái bàn này hiện nay vẫn còn giữ kỷ niệm tại Thảo Xá Hiền Cung, hiện giờ là Thánh Thất tại Tỉnh lỵ Tây Ninh. (2) Trong quyển Đại Đạo Truy Nguyên của cụ Huệ Chương ghi là: “Bên màn đòi lúc trêu hồn phách”. (3) Ông Cao Quỳnh Cư vốn quen gọi cha bằng Thầy.

Phụ lục: Cái bàn kỷ niệm mà ba ông Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh dùng để XÂY BÀN

Tích Hội Yến Diêu Trì: Rằm tháng 8 năm Ất Sửu (dl. 01-09-1925)

TÍCH HỘI YẾN DIÊU TRÌ Cô Đoàn Ngọc Quế dạy ba ông rằng: Ba anh muốn cầu thì ngày đó ba anh phải ăn chay, cầu mới được (ba ông vâng lệnh cô Đoàn ngày cầu ba ông ăn chay). Ngày qua tháng lại tới ngày Rằm tháng 8 năm Ất Sửu (Le 1er Septembre 1925). Ngày Rằm lập bàn hương án chưng những hoa thơm trầm trọn ngày (nhà không tiếp khách nào hết, nhà ở đường Bourdais 134 Sàigòn, nay là đường Calmette).

Ba ông vọng bàn cầu khẩn thắp hương thơm từ 10 giờ đêm tới giờ Tý, xông trầm hương thành tâm cầu quý cô lối năm phút thì có bốn cô giáng cho một bài thơ dưới đây: Im lìm cây cỏ vẫn in màu, Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu. (1)

Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc, Sương lồng ướt đất liễu đeo châu. Ngựa vàng ruổi gió thoi đưa sáng, Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu.

Non nước đìu hiu xuân vắng chúa, Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

Lục Nương ( Mối ăn hết ba bài thi). Ít bữa sau ba ông cầu ông A.Ă. giải nghĩa câu thi của Lục Nương câu thứ năm và câu thứ sáu: Ngựa vàng ruổi gió thoi đưa sáng, Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu. A.Ă.Â: Trường quang ánh sáng mặt trời. Kim Mã, Ngọc Thố: Kim Mã: Ngựa vàng là mặt trời. Ngọc Thố: Thỏ ngọc là mặt trăng. Thi văn lựa hai thú ấy mà chỉ mặt trời và mặt trăng, vì hai thú ấy chạy mau, con này rượt con kia, hết ngày tới đêm, hết đêm tới ngày, chỉ là ngày giờ qua mau rất lẹ.

Thi văn cũng dùng Kim Mã quá song, chỉ ngày giờ qua rất mau lẹ. Phụ ghi: (1) Trong quyển Đại Đạo Truy Nguyên: Mờ mệt vườn đào điểm sắc thu.