Q.I · Bài 8–10 · Kỷ Sửu–Ất Sửu

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, ngày 15 tháng 8 năm Kỷ Sửu (dl. 06-10-1949): Lễ Hội Yến Diêu Trì Kim Mẫu

Rút bài Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Tại Đền Thánh, ngày 15 tháng 8 năm Kỷ Sửu Do Kỷ Niệm Vọng Thiên Cầu Đạo Ngày 27-10 Ất Sửu Thể Theo Thánh Lệnh Của Đức Phật Mẫu LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ KIM MẪU Hôm nay là ngày kỷ niệm Bí Pháp, Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì, Đức Chí Tôn đã lập trong nền Chơn Giáo của Ngài. Bần Đạo thừa dịp nên thuyết minh cho toàn cả con cái Đức Chí Tôn hiểu rõ cái huyền vi bí mật ấy, bởi có ảnh hưởng với cơ quan đạt Đạo chúng ta tại mặt thế gian nầy.

Hơn nữa Bần Đạo có phương tiện tỏ ra một đức tin dị thường của một Đấng yêu ái, một Đấng tạo Càn Khôn Võ Trụ, Đấng tự hữu hằng hữu, Đấng quyền năng vô tận vô biên, cốt để cho con cái của Ngài thấu đáo cái thâm tình của Ngài đối với ta và ta đối với Ngài dường nào. Đạt đặng đức tin phi thường ấy, năm Ất Sửu tức nhiên năm 1925 Đức Chí Tôn đến với chúng ta, nhưng Ngài đến với một tình bạn mà thôi, đến với một danh hiệu, giờ phút này Bần Đạo không dám nói, Ngài đến cũng làm bạn Thượng Phẩm và Hộ Pháp.

Tháng 6 năm ấy Ngài dùng Cơ Bút huyền diệu của Ngài, Ngài dạy Vọng Thiên Cầu Đạo (điều mà chúng ta không thể tưởng tượng đây là một cử chỉ) ai cũng lấy làm lạ, nhiều người muốn tầm Đạo phải để một dấu hỏi, hỏi tại sao buổi ấy Thượng Phẩm và Hộ Pháp có một đức tin vững vàng nghe theo lời Ngài vọng Thiên Bàn Cầu Đạo. Điều mà chúng ta không thể tưởng tượng, đây là một cử chỉ chung chớ không phải cá nhân Thượng Phẩm hay Hộ Pháp mà lời giáo huấn của Ngài cốt yếu để cho toàn thể nhân loại nơi mặt địa cầu này nhứt hơn hết là nòi giống Việt Nam chúng ta.

Bần Đạo nói đây: Còn có Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu là người bạn Cao Thượng Phẩm và Bần Đạo buổi ban sơ thấu hiểu điều ấy, Ngài đến với một tình cảm đáo để, một đức tin vững vàng làm sao đâu? Không thể sợ đặng, không còn biết vị kỷ nhục nhã chi hết, giữa khoảng đường nơi Châu Thành Sàigòn thiên hạ tấp nập, mà Đức Chí Tôn buộc phải quì ngoài đường dựa bên lề ấy, quì đặng cầu nguyện xin Đạo cho chúng sanh, tội nghiệp thay!!!

Ngài thử thách cho đến nước, thảng như mình quì đó mà thiên hạ không hiểu mình quì làm gì thì cũng ít mắc cở chút mà cũng có thể quì, còn làm mà người biết thì nhột nhạt khó chịu lắm, nhưng sợ Đức Chí Tôn phải rán mà làm. Ngoài ra có ông bạn ai cũng đều biết là nhà thi sĩ danh tiếng, Bần Đạo dám chắc nội trong Nam Bộ chúng ta đây chưa có ai bằng, nỗi danh thi sĩ đứng đầu hết thảy là người ấy, không biết chứng cớ gì mà người mê thi phú của Đức Chí Tôn quá chừng quá đổi, đến nước người thuộc lòng thi phú của Đức Chí Tôn, rồi người họa lại với Đức Chí Tôn, người làm như mê man vậy.

Bần Đạo thì nhột nhạt duy có sợ mà vâng mạng lịnh thi hành quyền giáo hóa của Đức Chí Tôn, còn người thi sĩ Bồng Dinh họa theo đó mà ngâm, thiên hạ thấy tấn tuồng dị hợm tụ lại đông lắm. Trước để một cái bàn Vọng Thiên Cầu Đạo ngay chính giữa coi dị hợm lắm, Bần Đạo mới gát hai tay lên cho đỡ mắc cở vừa gát lên thì cái bàn quây gõ nói chuyện. Các Đấng Thiêng Liêng đến không biết bao nhiêu, đến các vị Giáo Chủ cũng xuống giảng dạy chúng ta và làm nhiều kiểu lạ lắm; cũng lúc nầy Đức Chí Tôn đã giáo hóa khá lâu các Đấng Thiêng Liêng cũng đến cùng Thượng Phẩm và Hộ Pháp, tuy mới mà đủ đầu óc có một đức tin vững vàng, đức tin ấy có thể nói rằng: T uy buổi ban sơ mà dường như khối óc đã thâm hiểu nhiều rồi, nên Đức Chí Tôn mới ra lịnh biểu làm một cái tiệc.

Ngài dạy sắp đặt cái tiệc ấy để đãi Đấng vô hình, đãi 10 người: Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Phần hữu hình có ba người: Thượng Sanh, Thượng Phẩm và Hộ Pháp. Sắp tiệc ấy do tay Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu vâng mạng lịnh tạo thành một tiệc, trên bàn thờ Phật Mẫu, ở dưới sắp 9 cái ghế cũng như có người ngồi vậy. Chén, đủa, muổng, dĩa, bất kỳ cái gì cũng giống như đãi người hữu hình vậy; duy có ba người xác thịt là Thượng Sanh, Thượng Phẩm, Hộ Pháp.

Bần Đạo mới hỏi tiệc này là tiệc gì? Ngài nói là Hội Yến Diêu Trì. Bần Đạo nghe nói vậy thì hay vậy, chớ không biết giá trị Hội Yến là gì cả. Nghĩ chắc cũng có ảnh hưởng gì cần yếu đến tương lai của Đạo mà vâng lịnh thôi, chớ không hiểu nghĩa lý cho cùng cạn gì hết. Ba người sống đồng ngồi ăn, còn Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu gắp đồ ăn để vào chén cho 9 vị và trên bàn thờ cho Đức Phật Mẫu cũng như người sống kia vậy.

Bần Đạo còn nhớ một chuyện lạ lùng, lúc đó lấy làm kỳ quái không hiểu gì hết, giờ biết Đạo mới hiểu Đức Chí Tôn buổi nọ lấy một tên riêng đối với Bần Đạo. Bây giờ Bần Đạo không dám nói lại, Ngài đến làm bạn cùng Thượng Phẩm và Hộ Pháp. Chừng Hội Yến Diêu Trì rồi, các Đấng Thiêng Liêng và các vị Giáo Chủ ra từ giả (thăng) kế Đức Chí Tôn đến nhập cơ. Thượng Phẩm và Bần Đạo tọc mạch hỏi: – Khi nãy Diêu Trì Cung đến có Ngài đến ở đó không?

Đức Chí Tôn trả lời: – Có chớ, Ta ở đây từ khi ban sơ đến giờ. – Ngài có thấy Diêu Trì Cung đến không? – Có chớ, Chính mình ta tiếp đãi! Cao Thượng Phẩm hỏi: – Diêu Trì Cung ngó thấy Ngài không? – Không ngó thấy. Cao Thượng Phẩm hỏi: – Sao vậy? Ngài trả lời: – Ngài dùng phép ẩn thân. Bần Đạo tọc mạch hỏi tiếp: – Như đứa em của tôi là

Thất Nương Diêu Trì có thể đạt Đạo chăng? – Đạt đặng chớ. Cao Thượng Phẩm hỏi: – Phải làm sao? Ngài nói: – Phải tu, bằng không tu thì chẳng đạt đặng. Bần Đạo hỏi: – Tu chừng bao lâu mới đạt đặng? Cái đó Ngài làm thinh. Bần Đạo hỏi: – Một năm? Năm năm? Một ngàn năm? Mười ngàn năm? Một trăm ngàn năm?

Ngài cũng làm thinh, rồi thôi không hơi sức nào hỏi nữa, không biết chừng nào mới đạt đặng, nghe vậy hay vậy. Các vị Nữ phái rán nhớ, Diêu Trì Cung, Bần Đạo có giải nghĩa Hội Yến Diêu Trì là gì rồi đó. T oàn Thánh Thể Đức Chí Tôn là con cái của Ngài rán để ý cho lắm: Từ khi Đạo bị bế Ngọc Hư Cung bác luật, Cực Lạc Thế Giới thì đóng cửa nên chúng sanh toàn cả Càn Khôn Vũ Trụ có tu mà thành thì rất ít, bởi phương pháp khó khăn lắm, muốn đạt pháp thì không phải dễ.

Cổ pháp định cho Chơn hồn về nơi Diêu Trì Cung, hưởng được Hội Yến Bàn Đào tức nhiên hưởng được Hội Yến Diêu Trì, ăn được quả đào Tiên, uống được Tiên tửu mới nhập vô cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống gọi là nhập tịch. Ôi thôi! Từ thử đến giờ có ai đặng hưởng nếu có đặng hưởng cũng một phần rất ít. Giờ phút này Đức Chí Tôn quyết định tận độ con cái của Ngài, thay vì Bí Pháp ấy độ con cái của Ngài về nơi Kim Bàn Phật Mẫu đặng hưởng đặc ân thiêng liêng của Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn buộc Phật Mẫu phải đến tại thế gian nầy để Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì tại cửa Đạo nầy cho con cái của Ngài giải thoát, ấy là một Bí Pháp Thiêng Liêng duy có tay Ngài định pháp ấy mới đặng. Hôm nay là ngày Phật Mẫu đem Bí Pháp đặng giải thoát chúng sanh, tận độ toàn vạn linh sanh chúng. Ngài để tại mặt thế này trong cửa Đạo này mà thôi. Hôm nay là ngày lễ của Ngài mà cũng là ngày trọng hệ trong cửa Đạo, xin toàn cả con cái của Ngài nhớ và để nơi tâm mình, bởi thế năm nào Bần Đạo cũng để ý đến lễ của Ngài hơn hết; từ tạo Thiên lập Địa đến giờ chưa có ai hưởng được thời kỳ nầy.

Ngài đến tại mặt địa cầu 68 nầy đặng tận độ con cái của Ngài. Chúng ta phải chiêm ngưỡng ơn vô biên vô tận của Ngài, chúng ta phải chiêm nghiệm lễ nầy để làm mật niệm cám ơn Đức Chí Tôn và Phật Mẫu, ấy là Bí Pháp của chúng ta đó vậy. Phụ lục: Ảnh tượng Đức Phật Mẫu và Cữu Vị Nữ Phật.

Ngày 22-08-1925 (âl. 05-07-Ất Sửu): Bát Nương giáng làm thi vấn đề “Tiễn biệt tình lang”

Ngày kia ông Cao Hoài Sang ra đề: “Tiễn biệt tình lang ”, ý ông là ra đề thử. Ngày 5 tháng 7 năm Ất Sửu (Thứ bảy, 22-8-1925) Bà Bát Nương giáng làm thi vấn đề “ Tiễn biệt tình lang” dưới đây:

Thi

Chia gương căn dặn buổi trường đình, Vàng đá trăm năm tạc tấm tình. Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế, Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

Ngày chờ mây áng ngàn dâu khuất, Đêm bặt đèn khuya một bóng nhìn. Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn, Xa xuôi ai thấu nỗi đinh ninh.

Cách đôi ba bữa sau có Quí Cao giáng hòa nguyên vận bài thi Bát Nương:

Ình ình trống giục thảm trường đình, Đau nỗi chia phôi một chữ tình. Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng, Phụng lầu gác quyển đợi hòa thinh.

Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó, Một mãnh gương treo biếng mắt nhìn. Kẻ ở phương trời người góc biển, Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

Quí Cao (Le 25 Aout 1925) Ngày 8 tháng 7 năm Ất Sửu.

Ngày 19-12-1925 (âl. 04-11-Ất Sửu): Thần Sơn Quan Tổng Thống Tông Kim Diệu Võ Tiên Ông thi

Thần Sơn Quan Tổng Thống Tông Kim Diệu VÕ Tiên Ông

Âm dương tuy cách cũng Trời chung, Thấy trái nên đây mới tỏ cùng. Thắt dạ thuyền xưa không đậu bến, Đau lòng hạc cũ chẳng về tùng.

Cúi đầu đành chịu thân trăm tuổi, Ngước mặt ngơ trông bặt chín từng. Mạnh yếu há ngồi cam chịu vậy, Hay chi cá chậu với chim lồng.

Chim lồng bao thuở lại non xanh, Ngóng mắt trông vơi chốn thoát mình. Dựng nước chẳng ai tài tướng lược, Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.

Vầy thuyền chi sợ cơn giông tố, Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến tranh. Thìn dạ chờ châu về hiệp phố, Nơi mình sự nghiệp mới tan tành.

Tan tành nhớ đến gánh giang san, Lòn cúi thương dân lắm buộc ràng. Phú quí mồi câu con hạc lánh, Đỉnh chung gió thổi đám mây tàn.

Đợi thời toan mượn cần câu Lữ, Dựng nghiệp tua chờ mặt lưới Thang. Ly loạn gặp thời đời muốn chán, Công danh phủi sạch hưởng thanh nhàn.

Thanh nhàn ngày tháng lại Tiên gia, Trị loạn hằng xem thế nước nhà. Bể hoạn dập dồi thương bấy trẻ, Thành sầu chất chứa cám cho gia,

Bạc đầu non chịu lằn sương nhuộm, Nhăn mặt nước chờ trận gió qua. Thân ái mối dây tua nắm chặt, Chít chiu ấy cũng một bầy gà.

Bầy gà mất mẹ kiếm bơ vơ, Yếu đuối biết ai để cậy nhờ. Nắng hạn trông mưa trông mắt mỏi, Đắng cay mộ nước một lòng chờ.

Ngoài khua tiếng giặc trong khua nịnh, Võ thiếu binh nhung quốc thiếu cờ. Trí chúa tôi hiền không gặp chúa, Nào người gánh nổi mối xa thơ.

Xa thơ hầu ngã nước nhà nghiêng, Ai giữ phong cương đặng vững bền. Đắp lũy Cổ Loa chưa mấy mặt, Lấp Hồ Hoàn Kiếm bấy nhiêu tên.

Thăng Long bao thuở nâng hùng khí, Gia Định từ nhiên chấp ấn quyền. Sông núi dật dờ chờ tạo khách, Hóa Công nên núi Đạo nên thiền.

Nên thiền khi trước lập công danh, Chín bệ xem qua chẳng trí quân. Ích nước xủ tay khoe đẹp áo, Lợi nhà vỗ bụng dưỡng tròn thân.

Nam Giao vắng vẻ đường cung kiếm, Văn Hiến khô khan ngọn bút thần. Danh vọng ru hồn quên thổ võ, Thẹn nòi bộc lại mộ đai cân.

Đai cân đã có vẻ chi chưa, Hay phận tù lao kiếp sống thừa. Dập đất gập ghình chôn trẻ dại, Ngừa thời điên đảo trí già xưa.

Ngồi hang thương kẻ mang da chó, Ngự điện ghét quân đội lốt lừa. Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa. Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

Chưa vừa mộng mị với tây tà, Dụ xác vong hồn dựa phách ma. Tiêu hủy thân cây lằn lửa táp, Tan tành hình nộm trận giông qua.

Rước voi phá mã đào lăng miếu, Thả rắn xua ong nhiểu điện tà. Đổ lụy hỏi người sao chẳng nhớ, Ngọn rau tấc đất nước nhà ta.

Nước nhà ta có tiếng anh phong, Vẻ đẹp trời Đông sắc Lạc Hồng. Nam Hải trổ nhiều tay Thánh đức, Giao Châu sanh lắm mặt Anh hùng.

Tinh trung lửa thét thành Bình Định, Khí liệt gươm đề tỉnh Quảng Đông. Văn Hiến bốn ngàn năm có sẵn, Chi cần dị chủng đến dâng công.