Q.II · Bài 139–146 · Bính Dần–Đinh Mão
Ngày 27-01-1927 (âl. 24-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch & Quan Âm Như Lai thâu Môn Đệ và dạy đạo
Jeudi 27 Janvier 1927 (24-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Lão chẳng ở lâu đặng nhứt là chánh Tý Lão phải chầu. Vậy chư Đạo Hữu thâu hết kẻ cầu Đạo, bỏ tên: Chính, Hoài, Vị. Bần Đạo biểu Thái Bính Thanh cứ lo thuốc cho Tiếng, nhưng trước khi uống phải dâng lên Điện mà cầu Thầy nghe à! Dầu Tiếng uống thuốc độc cũng mạnh... Cười... Kêu hết Đạo Hữu Soài Riêng vào mau.
Chư Đạo Hữu đừng vì buồn riêng mà làm cho Đạo phải mang tiếng. Phải ẩn nhẫn nhịn nhục mới đắc kỳ sở nguyện. Chẳng ai phạm đến oai linh Thầy mà thoát khỏi hình phạt. Thượng Trung Nhựt viết thơ cho Le Fol hay. Tái CẦU: Thường CƯ Nam hải Quan Âm Như Lai Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Chư Đạo Hữu thất nghiêm, thất kỉnh mạng lịnh Lý Đại Tiên hà cớ.... Lý Đại Tiên đại nộ. Chư Đạo Hữu Thủ Dầu Một khả thính:
Lập thành Đại Đạo tại Nam phương, Bả đắc kỳ mưu nhược thắng cường. Lân hiện châu U chơn Thánh xuất, Tự quân vấn đắc chiếm hà phương.
Khả lập đại công, hậu nhựt trọng dụng. Kim nhựt Đại Hội Bạch Ngọc Kinh, ngã bất thế duy trì.
Ngày 28-01-1927 (âl. 25-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Vendredi 28 Janvier (25-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, T oàn thâu Chúng Sanh....Vâng mạng Thầy, phong cho Hiền Hữu chức Giáo Hữu. Cả chư Thiên Phong có mặt tại đây đêm hôm qua cầu Lão trong giờ Tý (trừ ra Thượng Phẩm) hai người Lễ Sanh đều bị phạt quì 5 nhang.
Ngày 29-01-1927 (âl. 26-12-Bính Dần): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Samedi 29 Janvier (26-12-Bính Dần). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Khi Lão chào ít nghe chư Đạo Hữu trả lời lắm há?... Bình thân. Thổ nhơn lại gần... Thâu... Lui. T oàn thâu chư Chúng Sanh. Hoạch:
Hoạch địa dĩ tri Đạo diệu mầu, Năng thừa quyển hạnh đoạt thiên thâu. Mỹ quan hạnh đắc thời thông hiệp, Khả tịnh tâm kiên thế đáo đầu.
Ngày 31-01-1927 (âl. 28-12-Bính Dần): Quan Âm Như Lai dạy đạo
Lundi 31 Janvier 1927 (28-12-Bính Dần). Thường CƯ Nam hải Quan Âm Như Lai Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Hà sự cầu cơ. Bạch Ngọc Kinh đại hội cải luật Tam Kỳ Phổ Độ Lý Đại Tiên hữu trọng trách, trọng nhậm, vấn đáp chơn lý Tam Kỳ cứu tận chúng sanh, nhựt nhựt thường tại, bất đắc hạ trần giáng cơ chỉ giáo. Chư Đạo Hữu vật khi mạng lịnh, chí tứ nhựt tân niên Đại Tiên tái hiệp... Kỉnh lễ...
Ngày 02-02-1927 (âl. 30-12-Bính Dần): Thượng Chưởng Pháp Tương & Quan Thánh & Quan Âm Như Lai & Khương Thượng Tử Nha & Thái Bạch & Đức Chí Tôn dạy đạo
Mercredi 2 Février 1927 (30-12-Bính Dần). Đinh Mão niên, Chánh ngoạt - Sơ nhứt nhựt - Tý thời. Thượng Chưởng pháp Tương Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Mầng mầng mầng, vui vui vui... Đại phước cho cả nhơn sanh, đại hạnh cho quả địa cầu 68 nầy. Em còn phải công quả phổ độ mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên, nhờ Đại Từ Phụ cứu độ. Em khuyên nhủ cùng chư Huynh khá coi Thiên vị mình là trọng vì là của quí báu vô giá.
Còn sụt sè đường Đạo xin nhớ lấy danh em mà cự chống cùng Tà ma Quỉ mị cám dỗ. Tương đây công cán chẳng chi mà còn đặng địa vị nầy huống lựa là mấy anh, độ rỗi toàn cả cửu thập nhị Nguyên nhân thì phẩm cựu sẽ đặng trổi thêm thế nào. Xét lấy đủ vui lòng hành Đạo. Quan Thánh Giáng CƠ Quan Thánh Đế tọa vị. Thượng. Thường CƯ Nam hải Quan Âm Như Lai Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Thiếp đăng Điện.
Khương Thượng Tử Nha Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Lão thăng Điện. Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, Lão xin chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội khá giữ lễ cho Đại Từ Phụ đến. Khen bấy mấy Đạo Hữu, Đạo Muội biết kỉnh lễ dâng trong lúc hành lễ, tuy thô sơ coi chẳng ra vẻ chi mặc dầu, mà lòng thành cảm động, Lão khen đó. Phải sắp từ mười, mười người vào kiến giá Đại Từ Phụ, đừng một tiếng ồn ào làm thất lễ, Lão sẽ trọng phạt nghe à.
Lão ngự Điện. Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Các con! Mừng các con... Trung, Cư, Tắc, mấy con có nhớ đêm nay năm rồi thế nào, còn nay ra thế nào chăng? Trịnh Thị Ái Nữ, Hiếu, hai con đã thấy Thầy giữ lời hứa thế nào chưa? Thầy lập Đạo năm rồi ngày nầy thì Môn Đệ của Thầy chỉ có mười hai đứa, mà bốn đứa vào nơi tay chúa Quỉ, chỉ còn lại tám. Trong tám đứa thì lại còn một đôi đứa biếng nhác mà không hành Đạo.
Thầy hỏi, nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dầu cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa cũng chưa phương chi mà độ hơn bốn muôn sanh linh nhờ tay có sáu đứa Môn Đệ trong một năm cho đặng bao giờ. Thầy vui mừng, Thầy khen tặng hết bốn muôn Môn Đệ của Thầy. Thơ, con đã ngoan Đạo, mà sự ngoan Đạo của con đó còn độ lắm kẻ, Thầy khen con. Bính, Thầy thưởng công con cho lên chức Phối Sư.
Thầy cám cảnh lòng yêu mến con. Thầy cám ơn lòng đạo đức con, sanh linh còn chờ công con mà thoát qua khổ hải. Bản, Thầy thăng chức Giáo Sư. Trò, Thầy cho lên Giáo Hữu. Nhiều đứa khác nữa, ngày mùng chín Thầy biểu đòi về cho Thái Bạch phong thưởng. Thầy ban ơn hết trọn cả các con, dầu không có mặt tại đây cũng vậy. Thầy dở Cơ lên cho các con đều chun ngang qua cho Thầy ban phép lành...
Thầy cầu cho các con đặng ngoan Đạo như Thơ vậy; sửa mình cho nên chí Thánh vì Đạo năm nay sẽ rõ thấu khắp cả hoàn cầu, Môn Đệ tăng thêm hằng hà sa số. Phận sự các con lại còn nặng nề hơn nữa, nhưng các con nhớ biết thương Thầy, mà hễ biết thương Thầy thì ắt thương Đạo, mà hễ thương Đạo thì ắt thương hết Chúng Sanh. Các con biết Thầy là trọng, thì biết trọng Đạo, mà hễ trọng Đạo thì cũng phải trọng cả hết Chúng Sanh.
Trong tháng Giêng này Thái Bạch sẽ hội Nữ phái đặng lập cho hoàn toàn. Thầy trông công các con lắm đó. Thầy ban ơn cho các con một lần nữa.
Ngày 05-02-1927 (âl. 04-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Samedi 5 Février 1927 (Mùng 4 tháng Giêng Đinh Mão). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh. Hãy hội hiệp. Thảm cho nhơn loại! Khổ cho nhơn loại! Đời quá dữ, tội tình ấy hình phạt kia cũng đáng đó chút. Lão đã vì thương yêu nhơn sanh, hội mười ngày nơi Bạch Ngọc Kinh, cải cho qua tại nạn nhơn loại, nhưng luật Thiên Điều chẳng dễ chi sửa đặng. Nạn tiêu diệt hầu gần, hết sức chém giết lẫn nhau tới buổi bịnh chướng sát hại.
Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng rán chịu, lạy lục khẩn cầu, chư Đạo Hữu đâu rõ thấu! Ngơ ngơ ngáo ngáo như kẻ không hồn thấy càng thảm thiết. Lão tưởng chẳng cần nói chi một nước nhỏ nhoi, đã đặng danh Thánh Địa là nước Nam nầy mà Lão xin không đặng tội cho thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Huế, Hải Phòng, Hà Nội thay. Thảm thảm thảm. T oàn thâu.
Ngày 06-02-1927 (âl. 05-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Dimanche 6 Février 1927 (5-01-Đinh Mão). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Bình thân. Thổ nhơn nhập nội.... Chư Đạo Hữu mới dang ra... Thâu.... Lui. Nữ... Thâu... Lui. Nữ phái thượng sớ từ 10 người. Mai đọc tên. Nguyễn Thị Đầy:
Đầy đủ đức kia mới cận Trời, Lòng thương đâu lại có lưng vơi. Năm chầy đã vẹn ngừa ngày vận, Đặng chỗ nên trao hết nợ đời.
Thâu
Tông hành lễ. Võ Tuấn Tú:
Tú cắm thêm hoa đợi vẻ màu, Xem sau nhắm trước hỡi dường bao. Công danh há dựa gần Thiên vị, Học thiện đua chen bước Hứa Sào.
Thâu
Hổ cử Nam San vắt vẫy vùng, Cân đai rạng vẻ giữa trời không. Buôn Tần ví biết đôi hồi vận, Đoạt địa đừng ngơ vổ cánh hồng.
Thâu
Đành:
Đành trau nét tục lại màu thiền, Phải mặt thơ sanh chẳng gặp duyên. Bãi biển đưa chơn chưa đáng buổi, Trần hoàn trả vẹn nợ tiền khiên.
Thâu
Phòng:
Phòng xưa lánh Hớn biết hưng suy, Người có trí ngoan biết thế thì. Đất khách tuy rằng nương náo phận, Đồng môn khá nghĩ nghĩa đồng chi.
Thâu
Chi:
Chi lan ngộ tuyết sắc nan thường, Phản khách kiều lan ngộ chủ trương. Hoan lạc khả tu tri tỉnh ngộ, Trần ai hữu nhựt đoạt phi thường.
Thâu
Tông khá nói lại rằng: Lão mầng kẻ đồng hương. Chẳng một ai biết hành Đạo hết, Lão buộc còn phải dạy lắm điều. Tường, biếng nhác thối chí há, thôi thì về. Mai, phải rán hành Đạo nghe. Tông, ăn mặc chẳng lễ nghi chi hết. Phải liệu đấy, đợi Lão dùng oai linh thì chẳng một ai đắc Đạo đặng. Trung....
Ngày 07-02-1927 (âl. 06-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo
Lundi 7 Février 1927 (Mùng 6-01-Đinh Mão). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh,
Nho Chưởng Pháp tọa vị. Thượng Trung Nhựt hành lễ. Chư Đạo Hữu nới ra. Thâu Nam. Nữ vô. Tường dặn chư Sơn thủ trai nghe. Thâu Nữ phái Thổ nhơn. An Nam... Nữ trước. Mai đọc tên.
Thị Sum:
Sum vầy đã đủ một nhà hiền, Tiếng tục gọi rằng dự Địa Tiên. Chẳng phải trăm năm vui vẻ mãi, Có cơn cũng chịu sự đeo phiền.
Thâu hết. Thị Vững:
Vững vàng ráng bén cội nhơn nhà, Trời Đất dầu qua Đạo chẳng qua. Nỗi thưởng mắt phàm chưa dễ thấu, Chẳng gần thì ắt cũng chờ xa.
Thâu
Phạm Thị Đều:
Điều hay khuyến khích dạy nên người, Sanh đứng giữa Trời chẳng dễ chơi. Nối nghiệp xưa Hiền nay đến Thánh, Trông non cảnh tịnh chẳng xa vời.
Thâu
Nguyễn Thị Cầu:
Cầu may đâu dễ đặng gần Trời, Biết Đạo mới tìm đặng trúng nơi. Vạn kiếp xưa còn lo lắm nỗi, Xác tiêu hồn luyện chẳng nên đời.
Thâu hết. Phan Thị Chanh:
Chanh ranh làm rộn đến người mời, Chẳng biết phận mình chịu tả tơi. Mặc ấm ăn cao bằng ý muốn, Lão khuyên nghe Đạo một đôi lời.
Thâu hết. Đinh Thị Đuổi:
Đuổi xô cửa Phạm chẳng từng quen, Chẳng nễ ai sang, chẳng bỏ hèn. Lấp ló như người mang tội trộm, Ta không nỡ để đến nhiều phen.
Thâu
Nguyễn Thị Sang:
Sang như Tử Lộ đạo không lo, Nghèo đặng nên trang sửa nghiệp trò. Ai hỏi tu chi thì nói lại, Bên cầu thế giái một bên lo.
Thâu hết. Huỳnh Thị Xuân:
Xuân qua chưa đặng cổi màu xanh, Mang một tình riêng rất nhọc nhành. Hai nẻo lo đền thân nghĩa vẹn, Đo đường tội phước với khuôn xanh.
Thâu
Nguyễn Thị Ân:
Ân xưa chưa vẹn vội đi đâu, Thà nhắm mắt xem sự đáo đầu. Tránh nắng che mưa thân há vẹn, Thà câu cứu khổ miệng thường cầu.
Thâu hết. Nguyễn Thị Ca:
Ca diêu thường ví sự đời như, Một giấc Nam Kha tỉnh sật sừ. Chẳng vẹn nghiệp nhà đừng thối chí, Đợi thời noi chước Lạn Tương Như.
Thâu hết. Vương Văn Huấn:
Huấn giáo xưa sao đặng trọn tôn, Nay đem Đạo Thánh vốn không hồn. Muôn đời còn để danh hiền triết, Dầu chẳng nên Tiên cũng chức Hiền. Rán tu nghe... Thâu.
Phạm Văn Đắc:
Đắc thế thì toan chước đắc thời, Đừng cho mạnh cũ chịu lưng vơi. Mấy phen cam khổ cùng thân phận, Phải trách mình quê, chớ trách Trời.
Thâu
Phải liệu mà hành Đạo, sau Ta trọng dụng. Hồ Văn Thứ:
Thứ dung mấy lượt Phật Trời thương, Cứ thói lung lăng chẳng kính nhường. Tội trước sờ sờ chưa kết án, Đạo đâu há chịu để người nương.
Bỏ. Võ Văn Vạn:
Vạn sự nên hư vốn tại mình, Chẳng phân lẽ trọng với lời khinh. Ôm lòng khí khái tôn mình giỏi, Họa đến đòi lần chẳng thất kinh.
Võ Văn Đoan:
Đoan chánh khen ưa xử sự rành, Nay ta cũng dụng cải khôn lanh. Phong làm Giáo Hữu lo truyền Đạo, Dạy dỗ nhơn sanh một dạ lành.
Tường, Sơn quì mỗi người 5 nhang.
Dương Văn Trọng:
Trọng câu nhơn nghĩa bỏ tiền tài, Thế sự như người cũng ít ai. Một đức đủ nên Trang Tử trước, Nên hiền đâu dụng cũng nhơn tài.
Thái Văn Danh:
Danh hư đáng trọng cũng đôi khi, Chưa phải cân đai chịu lạy quì. Cái phẩm Thiêng Liêng so phẩm tục, Cũng như vàng thiệt với đồ xi.
Đặng Văn Ngọc:
Ngọc ngà chưa quí đến mua lòng, Có Đạo phải gìn kiếm chút công. Chưa rảnh nợ đời còn bận bịu, Muốn toan thoát tục tính sao xong. Toà n t h âu.
Kêu Chín vào nghe. Ta phong cho Hiền Hữu chức Giáo Hữu phái Ngọc.