Q.II · Bài 147–151 · Đinh Mão

Ngày 08-02-1927 (âl. 07-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch & Đức Chí Tôn thâu Môn Đệ và dạy đạo

Mardi 8 Février 1927 (Mùng 7-01-Đinh Mão). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Sơn, chư Thiện Nam, chư Tín Nữ, Lão dặn chư Hiền Hữu giữ Đàn cho nghiêm như vậy luôn luôn, đặng tiếp giá Thầy ngự đến; nếu sơ thất Lão trọng phạt nghe à! Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Chư Môn Đệ bình thân, Trung, con kêu hai người Thông ngôn Thổ vào, để một đứa trước chùa, một đứa trong Điện, Thầy nói thì nói lại nghe.

Kêu Gồng... Cựu Mẹ Sóc... Không phải, Gồng! Con thông ngôn lại nghe. Đứng dậy con. Thầy mừng lũ con yêu dấu Thầy. Căn đày của các con hầu mãn. Thầy đến lập một nền chánh Đạo nầy tại cõi Đông Dương là cốt làm cho kẻ bị hiếp đáp đặng mạnh mẽ, kẻ hiền lương làm Thầy kẻ hung bạo, ấy là lẽ công bình Thiêng liêng Tạo Hóa. Hết phạt tới thưởng là thường lệ. Các con thoát đặng khỏi nơi u ám là bởi đạo đức.

Các con sẽ đặng trọng kỉnh cũng bởi đạo đức. Thầy bồi đắp một sự ghét bỏ các con gần trên một trăm thế kỷ. Vậy các con phải chung hiệp cùng nhau. Namthổ chẳng còn phân chia nòi giống nghe à! Thầy ban ơn cho hết thảy các con. Thầy dặn tái cầu cho Thầy dạy người Nam. Tái CẦU: Thái Bạch Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu kêu Gồng và Niên. Gồng, Lão phong cho Hiền Hữu chức Giáo Hữu đặng phổ độ Thổ nhơn nghe à.

T uân mạng.... Lão chớ không phải Thầy. Niên, Lão phong cho chức Giáo Hữu, tuân mạng. Nhị vị Hiền Hữu lui ra ngoài lấy tên người Thổ chẳng kịp cầu Đạo. Niên lui đi. Nữ phái toàn thâu. Nam đọc sớ; hỏi ngoài còn sót sớ nhiều. Mai, đọc sớ. Trần Văn Thàng:

Thàng lòng từ bớt phép tinh ma, Trời Phật không thông với lũ tà. Khá mượn gươm Tiên bình thế tục, Đưa thuyền Bác Nhã khỏi võng la. Thâu trọn hết, trừ tên Cần và Thới. Phải kêu Đó vào.

Đó, Biểu, Ta vẫn thấy công ngươi vừa muốn ban thưởng, lại thấy liền đó ngươi thối chí. Chừ phải sao đây? Thì cũng phải như thường vậy, Lão hạ bút. Tường, xuống một bực phong làm Giáo Hữu phái Ngọc. Đó cũng vậy, phong làm Giáo Hữu phái Thượng. Khá gắng công hành Đạo mà thâu hồi chánh sắc mình. Bằng sơ thất Lão trục xuất nghe à!

Ngày 09-02-1927 (âl. 08-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy “ Đạo đã lập thành, vậy cây cờ chơn chánh đã vững gốc...”

Mercredi 9 Février1927 (Mùng 8-1-Đinh Mão). Thái Bạch Mầng chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Đại hỉ! Đại hỉ! Lão đã nói, Đạo đã lập thành, vậy cây cờ chơn chánh đã vững gốc đặng làm biểu hiệu cho cả chúng sanh dòm lấy đó mà đến nơi Bạch Ngọc Kinh. Nghĩ mà mừng, mà hễ mừng thì lại càng thêm giận lẫn vào trong. Nhưng nhiều vị Đạo Hữu chỉ lãnh chức mà chơi chứ chưa hề hành Đạo.

Ngọc Trang Thanh, Hiền Hữu đã chán chường mắt thấy một nơi tội lỗi là nội thành Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định, mà một mình Hiền Hữu hết lòng hành Đạo độ rỗi chưa ắt trọn cả chúng sanh nơi đó cho đặng. Hiền Hữu rất nên vô phước. Thượng Trung Nhựt, Lão đã nói, mà Thầy cũng đã nói trước rằng: Khi thành Đạo, nghĩa là khi Tân Luật phát hành thì trong hàng Môn Đệ may lắm còn lại nửa phần.

Trong đám Thiên Phong nhiều kẻ e còn bị trục xuất thay. Thầy vì lòng từ bi can gián Lão, bằng chẳng Lão đã dụng hình phạt mà răn những kẻ giả dối ấy. Và nay là ngày Vía của Chí Tôn, nhiều kẻ cầu Đạo không đáng thâu nạp, nhưng mà Từ Bi biểu Lão ân xá, nên toàn thâu không đuổi ai hết. Ban phước cho cả chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội. Chư Đạo Muội khá hội đủ ngày nạp Luật, đặng Lão ban Thiên phục.

Đường Thị bị trục xuất.

Ngày 10-02-1927 (âl. 09-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch thâu Môn Đệ và dạy đạo

Jeudi 10 Février 1927 (Mùng 9-1-Đinh Mão). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Thiên Phong bình thân. Tường, dặn chư Sơn thủ trai nghe, đặng tháng ba Đại hội thọ phong. T oàn thâu Nam, Nữ.

Ngày 11-02-1927 (âl. 10-01-Đinh Mão): Đức Thái Bạch dạy đạo

Vendredi 11 Février 1927 (Mùng 10-1-Đinh Mão). Thái Bạch Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Thổ nhơn Nam, Nữ... nhập nội. Chư Đạo Hữu bình thân. Tường, nói lại tiếng Thổ chư Ái Hữu từ đây đặng nơi tay một quyền hành trọng hậu là điều đình trọn phái Thái. Khá thủ trai đặng thọ phong nghe.

Ngày 15-02-1927 (âl. 14-01-Đinh Mão): Đức Chí Tôn Phong Thánh Chức Sắc Nữ phái kỳ nhứt

Cơ Phong Thánh ngày 14 tháng Giêng năm Đinh Mão, Chùa Gò Kén, Tây Ninh (Dl 15 Février 1927). Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Thầy đã lập Đạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu, từ tạo Thiên lập Địa chưa nước nào dưới quả địa cầu 68 nầy đặng vậy.

Cốt để ban thưởng cho các con, thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao? Ôi, mà hại thay! Thảm thay! Đau đớn thay! Hòn ngọc đẹp đẽ quí báu dường nầy, Thầy đến cho các con; các con lại học kiêu căng trề nhún. Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành Đạo thế nào. Biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận. Muốn chẳng lập Nữ phái mà làm gì, nhưng trai hay gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ.

Thầy lại thương con nên lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ. Bởi một lời đã hứa với Quan Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con. Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm lỗi lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm. Con coi đó mà coi, Thầy thương con là bao nhiêu. Thầy giữ phái Nữ lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến. Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành.

Con là chị, Thầy đến lập Tam Kỳ Phổ Độ chỉ vụ một chữ Hòa; con liệu đứa nên dùng đẹp lòng con kêu tên cho Thầy phán đoán. Trung, con giúp em nghe. Thăng. Xin phép Dẫn Giải: Hồi mở Đạo, chư vị Nữ phái Sài Gòn chưa hiểu Đạo cho lắm, cũng vì có bổn phận tề gia nội trợ nên hành sự Đạo bê trễ, vắng mặt mấy kỳ Đàn nên bị Thầy quở. Bài Thánh giáo trước đây, Đức Chí Tôn nói với Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh.

Do bài Trường Thiên của Đức Phật Bà cho biết chơn linh Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh. Chơn linh Bà Nữ Đầu Sư là Bà Long Nữ, hầu Phật Bà Quan Âm Bồ Tát. Lúc Bà Long Nữ tình nguyện lãnh lịnh nơi Ngọc Hư Cung xuống thế độ Nữ phái, Bà Long Nữ hứa với Phật Bà nên Thầy mới nhứt định dành phần công quả lại cho Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh. Xin xem kỹ câu văn Thầy nói: “Một phen lầm lỗi, lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm”, nghĩa là Thầy định lập Tam Kỳ Phổ Độ mười ngàn năm nay, không vì sự lỗi của Nữ phái mà bỏ cho đành.

Nhận xét lòng bác ái Thầy vô tận, vô biên; Thầy quở mà Thầy thương, rồi lại ban thưởng nữa; nên Thầy kêu Bà Nữ Đầu Sư lập Thông qui kêu Nữ phái cho Thầy chấm phong. Tóm lại, nhờ Bà Nữ Đầu Sư tất cả Nữ phái có hầu Đàn đêm 14 tháng Giêng năm Đinh Mão (15 Février 1927) đặng thọ phẩm tước hết. Người giải Nữ Giáo Sư Hương Hiếu (Ký tên) Phò loan: ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ Hộ Pháp -Thượng Phẩm.

(Đệ Nhị Niên) TÒA THÁNH TÂY NINH Thánh danh chư Chức Sắc Nữ phái kể tên dưới đây thọ Thiên Ân ngày 14 tháng Giêng năm Đinh Mão (15-2-1927), chùa Gò Kén, cơ Phong Thánh kỳ nhứt. Phối SƯ: 3. Phối Sư: Lâm Hương Thanh - Vũng Liêm. 4. Phối Sư: Lê Thị Ngân, Cô Sáu Minh Đường (Hạnh Thông Tây), đệ tử ông Đạo Quang. Giáo SƯ: 1. Giáo Sư: Bùi Thị Giàu (c) Bà Phủ Tương. 2. Giáo Sư: Trịnh Hương Huệ (c) Bà Thân Đức Cao Thượng Phẩm. 3.

Giáo Sư: Nguyễn Hương Hiếu, bạn Đức Cao Thượng Phẩm. 4. Giáo Sư: Đãi Hương Huệ (c) bạn Đức Quyền Giáo Tông. 5. Giáo Sư: Lê Thị Lộc, cô của Phủ Tương. 6. Giáo Sư: Huỳnh Thị Hồ, con gái Bà Nữ Đầu Sư. 7. Giáo Sư: Huỳnh Khiếu Chênh, ở Chợ Cầu. 8. Giáo Sư: Đào Thị Bốn, ở Chợ Cầu, Long Khánh (Tây Ninh). Giáo hỮU: 9. Giáo Hữu: Tống Thị Cẩm (c) Bà Kinh Hối, Sa Đéc. 10. Giáo Hữu: Trần Thị Chọn (c) Bà Đốc Dương, bà thân B.

Thế. 11. Giáo Hữu: Trịnh Thị Thị (c) Bà Đại Hương Cả (Tây Ninh). 12. Giáo Hữu: Trần Thị Lựu (c) cô Ba Mỹ Ngọc. 13. Giáo Hữu: Lê Thị Xiềm. 14. Giáo Hữu: Phạm Thị Thôi, bạn Ba Sanh. 15. Giáo Hữu: Lê Thị Ngân. 16. Giáo Hữu: Lương Thị Thể. 17. Giáo Hữu: Hà Thị Tỵ, Bà Hội Đồng Lâm (Vũng Liêm). 18. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Hương, bạn Đức Lưu Thương. 19. Giáo Hữu: Trần Thị Bường. 20. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Ân. 21.

Giáo Hữu: Phan Thị Tám (c). 22. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Nhiều, bạn Đức Hộ Pháp. 23. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Nhuần. 24. Giáo Hữu: Đặng Thị Ngân. 25. Giáo Hữu: Trương Thị Tròn, bạn Ông Tạ. 26. Giáo Hữu: Thái Thị Kiều, Bà Trương Ngọc Diêu. 27. Giáo Hữu: Cao Thị Thê (c). 28. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Lang (c). 29. Giáo Hữu: Tô Thị Đến. 30. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Huyền, con ông Chưởng Pháp Tương. 31.

Giáo Hữu: Huỳnh Thị Hảo (c). 32. Giáo Hữu: Nguyễn Thị Gần. 33. Giáo Hữu: Phan Thị Dựa (c). 34. Giáo Hữu: Phan Thị Đẹp. 35. Giáo Hữu: Trương Thị Màu. 36. Giáo Hữu: Lâm Thị Tiếng (c), con ông Cả Bính. lễ SAnh: 1. Lễ Sanh: Phạm Thị Nở. 2. Lễ Sanh: Trương Thị Quý. 3. Lễ Sanh: Lê Thị Út (lên Giáo Hữu). 4. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Thơm, bạn ông Tiếp Thế. 5. Lễ Sanh: Đặng Thị Nẳm. 6. Lễ Sanh: Trần Thị Thành. 7.

Lễ Sanh: Nguyễn Thị Săng. 8. Lễ Sanh: Đặng Thị Nuôi. 9. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Sang. 10. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Sô. 11. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Để. 12. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Tư. 13. Lễ Sanh: Trần Thị Bùng. 14. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Tâm. 15. Lễ Sanh: Hiểu Thị Lâm. 16. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Sanh, bạn ông Hiến Pháp. 17. Lễ Sanh: Lý Thị Kiều. 18. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Ký. 19. Lễ Sanh: Đoàn Thị Sửu. 20.

Lễ Sanh: Võ Thị Tước, bà thân cô Hai Huyền. 21. Lễ Sanh: Phạm Thị Khanh. 22. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Kiều. 23. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Hội. 24. Lễ Sanh: Lâm Thị Hầu. 25. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Hòa. 26. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Nhiều. 27. Lễ Sanh: Lê Thị Son. 28. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Thanh, cô Ba Thanh. 29. Lễ Sanh: Hồ Thị Điệp. 30. Lễ Sanh: Lê Thị Chô. 31. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Lại. 32. Lễ Sanh: Dương Thị Ngại. 33.

Lễ Sanh: Mai Thị Luật. 34. Lễ Sanh: Phạm Thị Màu. 35. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Khá. 36. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Ngân. 37. Lễ Sanh: Phạm Thị Trà. 38. Lễ Sanh: Dương Thị Kiếm (sau thăng Giáo Sư hàm). 39. Lễ Sanh: Trịnh Thị Điều. 40. Lễ Sanh: Trà Thị Cam (Thạnh Đức Tây). 41. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Hóa. 42. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Ngọt. 43. Lễ Sanh: Dương Thị Nhi. 44. Lễ Sanh: Phạm Thị Tớ. 45. Lễ Sanh: Phạm Thị Thê. 46.

Lễ Sanh: Lý Thị Đọt. 47. Lễ Sanh: Phan Thị Hơn. 48. Lễ Sanh: Ngô Thị Nho (sau thăng Giáo Hữu). 49. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Mẹo. 50. Lễ Sanh: Lại Thị Liền. 51. Lễ Sanh: Phan Thị Gần. 52. Lễ Sanh: Nguyễn Thị Khánh. 53. Lễ Sanh: Ngô Thị Chuộng. 54. Lễ Sanh: Bùi Thị Tho. 55. Lễ Sanh: Bùi Thị Dung. 56. Lễ Sanh: Trần Thị Nhuộm (c). Lâm Thị Ái Nữ, con và Đạo Minh lên chức Phối Sư. Con nói lại với Nữ Thánh rằng: Thầy ban ơn cho chúng nó.

Cả Hội Thánh Nam phái tung hô mừng lớn rằng: “Vinh diệu thay cho cả Nữ phái”. Thầy ban ơn cho các con. Giải nghĩa: Đức Chí Tôn giáng kêu Đầu Sư Nữ phái tên là Lâm Thị Ái Nữ, Đạo Minh là cô Sáu ở Minh Đường.