Q.I · Bài 11–19 · Ất Sửu

Ngày 31-08-1925 (âl. 14-07-Ất Sửu): Nhàn Âm Đạo Trưởng thi

Ngày 14 tháng 7 năm Ất Sửu (31 Aôut 1925) nhàn Âm Đạo Trưởng

Thi

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng, Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân. Rượu cúc một bầu trăng gió hứng, Non sông dạo khắp lối đêm xuân.

CAO XUÂN LỘC Giáng họa nguyên vận bài thư trên:

Sống thác từ xưa đã có chừng, Nơi trần mãn tính trọn nhơn luân. Đò đưa phút chịu vùi ba tấc, Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.

Ngày 15 tháng 7 năm Ất Sửu (01-09-1925) CAO QUỲNH CƯ Họa nguyên vận hai bài thi trên:

Cõi thọ là đâu khó độ chừng, Ẩn tàng lội lạc bậc kinh luân. Buổi già ước đặng đem thân gởi, Biển Thánh rán dò lúc tuổi xuân.

Tháng 09-1925 (âl. tháng 08-Ất Sửu): Lục Nương & Thất Nương thi

LỤC NƯƠNG làm thi hai câu, còn sáu câu nhượng cho ba ông làm:

Lục Nương: Trót đã đa mang cái nợ đời, Gánh đời nặng lắm khách đời ơi! Cao Quỳnh Cư: Oằn vai Thần đạo non sông vác, Chịu kiếp trần ai gió bụi vùi. Phạm Công Tắc: Thương hải tang điền xem lắm lúc, Công danh phú quý nhắm trò chơi. Cao Hoài Sang: Ở đời mới hẳn rằng đời khó, Khó một đôi năm dễ khó đời. Lục Nương: Ở thế sao chê tiếng thế buồn, Buồn vui hai lẽ lấy chi đong. Cao Quỳnh Cư: Cân đai tuế nguyệt trêu hồn bướm, Tên tuổi phong ba lắm bụi hồng. Phạm Công Tắc: Chiếc bách dập dồn dòng Bích Thủy, Phồn hoa mờ mệt giấc Huỳnh Lương. Cao Hoài Sang: Bờ dương chừ đặng phong trần rảnh, Quảy gánh thơ đàn dạo bốn phương.

Thất Nương

Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân, Cảm tình trông đợi dạ ân cần. Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng, Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

Ngày 22 tháng 8 Ất Sửu (8-9-1925)

Ngày 20-10-1925 (âl. 03-09-Ất Sửu): Huyền diệu của ông A.Ă.Â, cũng là Thiêng Liêng thử ba ông coi có thương ông A.Ă. không

Độ tháng 9 năm Ất Sửu, ông A.Ă. giáng hỏi với ba ông như vầy: – Tôi nói lộ Thiên Cơ, trên Ngọc Hư bắt tội, xin Tam vị Đạo Hữu cầu trên Ngọc Hư Cung tha tội tôi, nếu không lo cầu giùm thì tôi sẽ bị phạt. Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh rất lo lắng. Ba ông vọng bàn Hương Án cầu Diêu Trì Cung. Đức Cao Thượng Phẩm có đặt một bài thi rồi đọc trước bàn Hương Án như vầy: (1)

Vái van xin quí Cửu Thiên Nương, Tâu với Ngọc Hư tỏ ngọn nguồn. Vì nghĩa...... mang trọng tội, Nghĩ tình đồng Đạo để tình thương.

(Mồng 3 tháng 9 Ất Sửu) (1) Xem huyền diệu ông A. Ă. cũng là Thiêng Liêng thử ba ông coi có thương ông A.Ă. không.

Ngày 18-10-1925 (âl. 01-09-Ất Sửu): Đức Chí Tôn tá danh A.Ă. giải nghĩa: “Người trước nghĩ thương cơn tuyết nhuộm, Lũ sau buồn chạnh nỗi sương pha.”

Ngày 01 tháng 09 năm Ất Sửu (18 Octobre 1925) Có ông Thổ Địa Tài Thần giáng gõ bàn cho bài thi. Tôi rút hai câu của Thổ Địa Tài Thần, cầu A.Ă. giải nghĩa cho hiểu: Người trước nghĩ thương cơn tuyết nhuộm, Lũ sau buồn chạnh nỗi sương pha. A.Ă. giải nghĩa: (Ông A.Ă. giải nghĩa cao kỳ lắm). Có câu: Mã bì tuyết thể, nghĩa là da ngựa tuyết thân, chính là trang tài tướng chinh chiến một mình, da ngựa bọc thân tuyết sương đắp thể.

Tỏ là đời ly loạn có câu tục ngữ nói: Gối vác nằm sương, chỉ là thân chịu nhọc nhằn cực khổ. Câu thi trên sửa lại như vầy thì nhằm điển văn hơn. A.Ă. sửa lại hai câu của Thổ Địa Tài Thần: “Thân trẻ phải cơn sương gối ướt, Thương già gặp buổi tuyết thân pha”. T uyết thân pha: Pha nghĩa là hòa lộn, chịu lạnh lùng đến đổi thân với tuyết cũng lạnh như nhau. Phụ ghi: Nguyên bản chánh in là Ngày 25 tháng 9 năm Ất Sửu (18 Octobre 1925), đối chiếu với LỊCH THẾ KỶ XX (1901 -2000) Ấn bản năm 1976, nhà xuất bản PHỔ THÔNG - HÀ NỘI ghi Ngày 18 Octobre 1925 ngày âm lịch là 01-9-Ất Sửu.

Ngày 20-10-1925 (âl. 03-09-Ất Sửu) 12 giờ khuya: Cửu Thiên Huyền Nữ dạy đạo

Cửu Thiên Huyền Nữ Thiếp chào Tam vị Đạo Hữu. Phải tu tâm dưỡng tánh, phòng ngày sau đặng qui vị. (12 giờ khuya ngày 20-10-1925).

Ngày 14-11-1925 (âl. 28-09-Ất Sửu): Nhàn Âm Đạo Trưởng thi

Le 14-11-1925 nhàn Âm Đạo Trưởng

Thi họa vừa khi bước hứng nhàn, Vòng trần luân chuyển luống lo toan. Cày mây cuốc nguyệt chờ Thang Võ, Rằng biết cho dân chịu buộc ràng.

Buộc ràng túng tiếu cõi Nam Châu, Trị loạn vần xây cuộc bể dâu. Phép nước đòi cơn mây gió thảm, Nghiệp nhà lắm lúc nước non sầu.

Thương người để dấu noi người trước, Hiệp chủng làm gương dắt lũ sau. Cá chậu chim lồng chi dễ chịu, Rừng xưa bến cũ thảnh thơi đâu?

Thảnh thơi đâu buổi nước non nhà, Nam đảnh hầu xem trận gió qua. Ứa mặt ướm nâng nền thổ võ, Bền lòng chờ đợi bến sơn hà.

Dập dồi bể hoạn thương bầy trẻ, Lắc lỡ thuyền du hổ phận già. Cũng muốn lẫy lừng xây thế cuộc, Vòng trần ngặt đã bước chân ra.

Bước chân ra nghĩ ngậm ngùi thay, Nỗi ước nhiều phen khó cạn bày. Rừng trước tuy vui chung rượu thắm, Ơn xưa đâu lợt tấm lòng ngay.

Rèn tâm khá nắm dây thân ái, Giữ dạ đừng quên mối cảm hoài. Biển khổ mang bầu chờ tế độ, Giựt giành chi khỏi trả rồi vay.

Trả rồi vay tua vẹn lòng son, Bia cũ gương trung dấu vẫn còn. Đội mão khỉ ngồi non hớn hở, Lìa rừng cọp ngóng biển thon von.

Nào khi đất Việt trời ngang dọc, Chừ lúc vùng Nam phận cúi lòn. Xương thịt cũng đồng nhân loại thế, Dày bừa há chẳng hổ sông non?

Non sầu cỏ nhuộm đã phơi sương, Thành cũ đường xưa cảnh để buồn. Vạc ngả người đày trâu ngựa kéo, Gia tàn yến rủ gió mưa tuông.

Vật còn biết mến ngày thong thả, Mình há đâu quên chỗ cội nguồn. Vầy hiệp đồng tâm liên ái kết, Cường quyền sức mọn dễ chi sờn.

Chi sờn máu thịt mảnh thân phàm, Danh lợi mồi câu nhử tánh tham. Ví biết trọng mình nhà nước trọng, Đừng quên tham nhục giống nòi Nam.

Non sông chẳng đổi theo lời nói, Cơ nghiệp dầu thay bởi sức làm. Un đúc lòng thành chờ máy Tạo, Có ngày khuấy nước chọc trời Nam.

Trời Nam vừa thọ ánh dương quang, Cương tỏa tiêu tan thấy cảnh nhàn. Vần vũ suối bờ Thần tiếp Thánh, Ồ ào Bến Nghé quỉ xô quân.

Hồn trung vì nước hơi vừa tỉnh, Mắt trí xem dân đã quá làn. Hồng Lạc giống nòi dầu thoát ách, Là hai mươi triệu kẻ đồng gan.

Đồng gan mới biết đặng đồng tình, Biết máu thịt mình mới biết binh. Lợi lộc của nhà thì cứ lấy, Thế quyền trong nước há ngồi xin.

Trống gông nô lệ sao ham muốn? Hình bóng quan viên xúm giựt giành. Lịch sử chép biên bao vẻ đẹp, Ai từng đem nhục đổi làm vinh.

Làm vinh nghĩ chẳng thẹn non sông, Chín suối ông cha nhẫng tủi thầm. Buồn thấy giống Hồng thây chúng xẻ, Thảm xem giòng Lạc thịt người bầm.

Biên cương buổi nọ Tàu lui gót, Chín bệ ngày nay quỉ nhảy đầm. Rút vỏ gươm linh ta quyết một, Chẳng bao kẻ nghịch đặng ăn nằm.

Ăn nằm nín nẳm đợi Chơn Quân, Ta quyết sẽ cho kẻ hạ trần. Nắm mối xa thơ ra sức gánh, Thâu giềng xã tắc sửa đầu cân.

Thái bình trăm họ nhìn chơn Chúa, Thạnh trị ba châu trổ trí Thần. Độc lập gần ngày vui sắp đến, Bỏ cơn đất Việt chịu tam phân.

Ngày 15-12-1925 (âl. 30-10-Ất Sửu): Quí Cao hòa nguyên vận bài thi của Thuần Đức

Thuần ĐỨC Xướng (Tự là Ông Bảo pháp)

Mấy năm rồi cũng phủi tay không, Đường thế chiêm bao một giấc nồng. Nặng nghiệp phong trần buồn với phận, Lo bề trung hiếu thẹn cho lòng.

Trời cao chưa phỉ tình mây bạc, Đất túng càng khinh chốn chậu lồng. Chờ gặp cố nhân lời dám hỏi, Hỏi ra cho biết vận cùng thông?

QUÍ Cao Hòa Nguyên Vận Bài Thi TRÊn:

Một tiếng U Minh gióng cửa không, Phồn hoa giục tỉnh giấc đương nồng. Ngồi thuyền Bác Nhã qua tình biển, Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.

Cuộc thế lạnh lùng làn gió lọt, Đường đời ngán ngẩm bụi trần lồng. Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Đạo, Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

A.Ă.â Giải Nghĩa Hai Câu Thơ Của QUÍ CAo: Ngồi thuyền Bác Nhã qua tình biển, Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng. Bác Nhã Ma La Phật là Phật độ vong hồn qua khỏi biển khổ đặng đến Tây Phương, vì trước khi đến Tây Phương phải qua một cái biển khổ. Biển tình: Tình là oan oan, oan oan là khổ. Biển tình là biển khổ. Phồn hoa: Phồn nghĩa là trong vòng; hoa nghĩa là sắc dục. Phồn hoa nghĩa là trong vòng sắc dục.

Giấc phồn hoa là giấc phàm.

Năm 1925 (âl. Ất Sửu): Đức Chí Tôn tá danh A.Ă. thu phục ông Nguyễn Trung Hậu (Ngài Bảo Pháp) & ông Lê Thế Vĩnh (Ngài Tiếp Thế)

Năm 1925, ông Nguyễn Trung Hậu nghe đồn ông Tắc, ông Cư, ông Sang xây bàn có vong về cho thi hay lắm, đồn tới tai ông, bữa nọ ông Nguyễn Trung Hậu đến nhà ông Cao Quỳnh Cư, ý ông muốn thử xem coi thiệt giả. Ông đến đó hầu đàn, ông A.Ă. giáng gõ bàn cho ông Nguyễn Trung Hậu bài thi dưới đây:

Thi

Thuần văn chất Đức tài cao, Tên tuổi làng thơ đã đứng vào. Non nước muốn nêu danh tuấn kiệt, Đến hồi búa Việt giục cờ Mao.

Không ai biết cái biệt hiệu của ông Nguyễn Trung Hậu là Thuần Đức, cho nên ông mới chịu nhập môn. Ông Cao Quỳnh Cư cầu ông A.Ă. giải nghĩa: Cờ Mao búa Việt là vật binh quyền của Hiên Viên Huỳnh Đế ban cho Trấn chư Hầu đặng quyền chinh phạt. Ngũ Đế Thương Châu còn dùng: Đáng phạt thì phát cờ Mao, Đáng giết thì ban búa Việt. – Cờ Mao: thì màu hồng, trên lá cờ có đề bốn chữ “Mao trừ loạn tặc”. – Búa Việt: trên lưỡi có khắc bốn chữ “Việt sát phản thần”.

Bữa nọ ông Kiên và ông Vĩnh (là Tiếp Thế Vĩnh) làm việc nhà báo năm Ất Sửu 1925, ông A.Ă. cho hai ông một bài thi dưới đây:

Thi

Một viết với thân giữa diễn đàn, Bằng xua trước giặc vạn binh lang. Nước nhà ví biết thân là trọng, Dạy dỗ sao cho đặng mở mang.

Ngày 13-11-1925 (âl. 27-09-Ất Sửu): Quí Cao xướng thi & Bát Nương thi & A.Ă. giải nghĩa:”Niếp Tử Xe Châu”

Ngày 13 tháng 11 năm 1925 QUÍ Cao (Xướng)

Thương nhau nhớ lúc xướng thơ hòa, Sinh tịch đôi đàng phải cách xa. Chén rượu đồng tâm nghiêng ngửa đổ, Biệt ly nầy trách bấy Trời già.

Thuần ĐỨC (Họa) QUÍ Cao

Đêm khuya tịch mịch gió thu hòa, Chạnh nghĩa kim bằng dạ xót xa. Đạo lý những mong vầy một cửa, Ngừa đâu rời rã buổi chưa già.

Cao Quỳnh CƯ (Họa) QUÍ Cao

Mừng bạn hôm nay đặng hiệp hòa, Âm dương đường gẫm chẳng bao xa. Nhìn văn mà chẳng trông hình dạng, Gặp mặt còn mong đợi tuổi già.

Bát Nương

Động đình chạnh lúc tạm chia đường, Bốn giọt nhìn nhau lối rẽ cương. Trời thảm mây giăng muôn cụm ủ, Biển sầu nước nhuộm một màu thương.

Cờ Thần nhớ buổi vầy đôi bạn, Tiệc Ngọc nào khi hội nhứt trường. Mượn vận lương nhân xin nhắn nhủ, Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.

A.Ă.â Giải nghĩa: “Niếp Tử Xe Châu” – Niếp Tử: Niếp là rương đựng sách. Tử là thầy Đức Khổng Tử. Niếp Tử: Là rương đựng sách của Đức Khổng Tử, sau Tần Thỉ Hoàng đốt sách chôn học trò, nghĩa là chôn rương sách của Đức Khổng Tử, tức chôn Đạo Nho. Niếp Tử dùng mà chỉ cài hòm để chôn người đạo đức, văn chương tài tình. – Xe Châu: Nghĩa là nhà vàng, tỷ như xe Châu Võ Vương Cơ Phát dùng mà đi phạt Trụ đặng thâu thiên hạ, nghĩa là sự giàu sang phú quí chi cũng đựng trong xe ấy mà thôi.

Xe Châu là xe đựng sự giàu sang phú quí của kiếp con người.