Q.II · Bài 199–203 · Mậu Thìn–Nhâm Ngọ

Ngày 31-05-1928 (âl. 13-04-Mậu Thìn): Đức Chí Tôn dạy “

nào gieo sự chia phân, tương tàn cho các con là kẻ nghịch đường Chánh Giáo...”. Phò Loan: Hộ Pháp, Thượng Phẩm. Ngày 31-05-1928 (Mậu Thìn). Thầy Các con, Trung, con phải liệu dùng thời giờ thế nào cho có đủ mà xem xét cách hành động phần nhiều trong các Đạo Hữu của các con trong buổi nầy. Thầy đã phân phát phận sự đặc biệt của con mà chẳng làm sao cho hết lòng, còn sợ chinh lòng của Đạo Hữu hơn sợ thiếu sót phận sự.

Lúc nầy là lúc Chánh Phủ đương dòm hành cử chỉ trong Đạo định liệu mà cho phép hay là cản ngăn. Các con hành sự mà nhiều đứa hay lấy quyền riêng để làm cho sanh sự rối loạn trong Đạo. Nếu các con chẳng gắng công mà chăm nom việc hành tàng của chư Đạo Hữu, thì chẳng khỏi sanh một trường náo nhiệt lớn lao trong Đạo, mà rồi sanh linh cũng vì đó phải chịu lỡ bước trót muôn ngàn. Từ đây, những Thánh ngôn ban hành cho các Môn Đệ cần phải có con ký tên và ấn dấu đành rành; nếu Thánh ngôn mà thiếu con ký tên thì chư Môn Đệ được phép không tuân.

Con phải cho chư Môn Đệ biết nghe. Thầy vốn chẳng muốn làm cho nhọc lòng của Môn Đệ nào mà không bổ ích chi cho nền Đạo. Than ôi! Các con còn phải trải qua đường dài ngàn dặm, còn qua biết mấy vực thẳm non cao, mà đã vội muốn chia lìa phân cách nhau. Thầy cũng đau lòng, nhưng căn phần về sau của mỗi đứa đều định. Các con khá biết thương nhau mới chẳng uổng công trình đã bấy lâu cực khổ.

Kẻ nào gieo sự chia phân, tương tàn cho các con là kẻ nghịch đường Chánh Giáo. Nếu chẳng biết cải hóa thì lòng từ bi của Thầy khó dung tình nữa đặng.

Ngày 01-06-1927 (âl. 02-05-Đinh Mão): Đức Chí Tôn dạy “

con phải chịu lắm nỗi gay go mà gieo mối thương tâm cho đoàn hậu

tấn.... Thầy phải ngưng hết Cơ Bút truyền Đạo,...”. Phò Loan: Hộ Pháp, Thượng Phẩm. Ngày 01-06-1927 (Đinh Mão). Đàn tại Phước Thọ, nhà M.Tương.

Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh. Tương, từ nền Đạo khai sáng đặng gieo truyền mối Chánh Giáo cho đến nay thì phần nhiều Môn Đệ đã có để trọn tấc thành mà dìu dắt sanh linh đắp vun mối Đạo Trời. Ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trong nẻo Thiêng Liêng dẫn lần dân sanh thoát khỏi sông mê bể khổ tức là cõi trần vô vị nầy.

Đạo đã lập thành, gót trần của phần nhiều Môn Đệ hầu rửa sạch bợn, nhưng các con phải chịu lắm nỗi gay go mà gieo mối thương tâm cho đoàn hậu tấn. Gương sáng đã giồi nên mà con thuyền Bát Nhã phải tùng nơi máy Thiên cơ mà lắm phen lắc lẻo, đắm chìm biết bao nhiêu khách tục. Ấy là những Môn Đệ vô phần, chẳng giữ nét thanh cao, lại mượn thói vạy tà để làm cho nhơ bợn mối Đạo quí báu của Thầy đã lấy đức háo sanh mà khai hóa.

Con đã để dạ ưu tư về mối Đạo, đã lắm lần trêu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sòng mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đường sau mà lần đến cảnh tự toại thung dung, tránh hết muôn điều phiền não, ấy là Môn Đệ yêu dấu, khá gìn mực ấy mà đi cho cùng nẻo quanh co. Cân công quả sẽ vì phần phước mà định buổi chung qui mỗi đứa. Còn tới cuối kỳ tháng sáu nầy thì Thầy phải ngưng hết Cơ Bút truyền Đạo, các con sẽ lấy hết chí thành đã un đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn toàn mối Đạo.

Nầy là mấy lời đinh ninh sau rốt khá lưu tâm, ai vạy tà nấy có phần riêng, cứ giữ nẻo thẳng đường ngay bước đến thang Thiêng Liêng chờ ngày hội hiệp cùng Thầy, ấy là điều quí báu đó. Thầy cho các con tự định thâu sớ và cho nhập môn như các chỗ khác. Thầy ban ơn cho các con. Thăng.

Ngày 12-09-1927 (âl. 17-08-Đinh Mão): Đức Thái Bạch dạy “

biết phục theo luật định của Hội Thánh Công Đồng thì đặng phép dâng sớ cho Lão định đoạt...”. Ngày 18-09-1927. Lý Bạch Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu còn mang trách nhậm lớn lao của Đại Từ Bi đặng phổ thông, điều đình mối Đạo, hiệp với Hội Thánh mà trù nghĩ, suy tính cách thức hành động về bước đường của chư Thiên Phong và Đạo Hữu trong buổi nầy. Phải lấy nét thẳng đường ngay do nơi tâm thành mà hành sự tạc thù, đừng sợ chinh lòng mà để nét bất bình cho cả chư Đạo Hữu.

Mỗi mỗi các việc hành động đều nơi Đức Từ Bi sắp đặt sẵn rồi duy có để chư Hiền Hữu bước lần mà đi tới. Những Đạo Hữu nào mà không vì hạnh đức, mà nương cậy chung hiệp nhau lo hành Chánh Giáo thì đã có chư Thần Thánh lãnh lịnh biên ghi vào sổ công quả đợi ngày chung qui đặng vào cân Thiên Điều mà phán đoán, nhưng Hiền Hữu cũng nên giữ lời Thánh giáo của Đức Từ Bi, hễ ai biết phục theo luật định của Hội Thánh Công Đồng thì đặng phép dâng sớ cho Lão định đoạt.

Nhiều kẻ lại tư lịnh muốn mở riêng đường khác, đặng dìu nhơn sanh vào lối quanh co. Hại thay, căn xưa quả trước chẳng chịu lo đền bồi, lại tự mình vào nơi hang thẳm, sau kết cuộc ra thế nào sẽ thấy. Hiền Hữu lo về phần Thuyết Đạo cho chóng; Bàn Tri Sự sắp đặt có đủ tư cách và mỗi Đạo Hữu đều có tư cách riêng mỗi tháng nhóm một lần là đêm Rằm mà bàn tính việc Đạo; xem xét coi sự nào trong Đạo nên hủy vì sái nhơn tâm, sự nào nên thi hành vì hiệp lòng sanh chúng, gắng lo chung nhau mà làm cho Đạo đặng có phẩm giá tối cao, tối trọng, thì thế nào chư Hiền Hữu chẳng vui lòng mà bước tới.

Mỗi lần nhóm Bàn Tri Sự, ba vị Đầu Sư phải có mặt, ba Chức Sắc Hiệp Thiên Đài chứng sự. Mỗi việc nghị định đều biên chép để lại đành rành, sau khỏi điều dị nghị. Trong cả chư Đạo Hữu và Tín Đồ, Lão cho Hiền Hữu biết rằng: Nữ phái phần nhiều chưa thông hiểu về Đạo cho lắm. Hiền Hữu mỗi Đàn lệ cần phải buộc Nữ phái tới mà nghe Thuyết Đạo chung với Tín Đồ. Sau nầy chừng Lão liệu có Đạo Muội nào đáng công tìm học Đạo lý thì sẽ cho Thuyết Đạo.

Trung bạch: Xin nhóm Đàn tại Chợ Lớn. Hiền Hữu đặng tự liệu. Từ đây để Hoạch vào Hiệp Thiên Đài nghe. Lão để lời khuyên chung và gắng vì Đạo mà tỏ nét kính thành Đấng Chí Tôn. Phụ ghi: Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển 2 bài 37 ghi là: Ngày 12-09-1927 (âl. 17-08-Đinh Mão)

Ngày 02-09-1942 (âl. 15-08-Nhâm Ngọ): Đức Diêu Trì Kim Mẫu dạy “Mình tu cho chúng sanh, mình lập vị cho chúng sanh tức là mình lập vị cho mình...”

Phò Loan: Khai Đạo Đãi, Hiến Đạo Tươi. Ngày Rằm tháng 8 năm Nhâm Ngũ ((2-9-1942). Diêu TRÌ Kim MẪU Mừng các con Nam, Nữ, Mẹ vui được thấy các con biết lo cho chúng sanh tức là lo cho mình vậy. Mình tu cho chúng sanh, mình lập vị cho chúng sanh tức là mình lập vị cho mình. Phải hiểu cho rõ, nếu chúng sanh chưa ai đắc Đạo, thì ta phải cầu nguyện cho người đắc Đạo trước ta. Nếu mình cứ mong cho cao phẩm giá, tức là trái với Thiên ý.

Mình phải hằng ngày trau giồi tánh đức, lo chung cho thiên hạ ấy là phương pháp tu tắt đó. Thường ngày công phu mà mình chất chứa tánh tự kiêu thì cũng không mong đắc chánh quả được, bất quá đắc một vị Địa Tiên đó thôi. Vậy muốn cho hoàn toàn thì rán tập cho biết trừ các điều xấu xa, tập thường ngày tầm chơn lý, kiếm hiểu huyền vi, răn mình hằng bữa, đó là đường chánh sáng láng cứ lo bước tới.

Đạo chia ra ba Chi: Thế, Pháp, Đạo. Mình tu cho đúng theo luật, hành theo pháp thì chúng sanh nơi thế ca tụng công đức mình, trọng kính mình, ấy là mình đắc thế. Hễ đắc thế thì phải tầm pháp đặng cứu chữa, dạy bảo theo pháp; nếu mình hành pháp hiển linh, chúng sanh ứng mộ, thì mình đắc pháp. Nếu đắc pháp thì phải tầm Đạo là vô vi, muốn tầm không phải dễ, mà dễ khó là do nơi mình; nếu đi được hai khoản thì khoản sau nầy phải

rán, nếu đắc Đạo thì nhập cõi Niết Bàn. Mẹ ban ơn cho các con Nam, Nữ. Nhứt khí tạo đoan cả Địa Cầu, Nương theo Mẹ cả giảng vài câu. Kính dâng Tam Bửu hằng năm vẹn, Tặng lễ mừng thầm đắc chẳng lâu. Nhị Châu Chơn Võ nhớ cùng không, Nương cõi Thiên Cung gởi bóng hồng. Kính tặng vài câu mừng bạn cũ, Tặng người hiếu hạnh chịu phòng không. Tam Kỳ khai mở Đạo lần ba, Nương náu ít lâu rõ báu hòa. Kính lượng bề trên ban đức tánh, Tặng người tài trí hứng Đài cao. Tứ đức vẹn toàn mới xứng danh, Nương hơi nhang khói chỉ điềm lành. Kính mừng quý vị ân cần tịnh, Tặng khách nâu sòng diệt quới khanh. Ngũ hành vận chuyển đoạt huyền Thiên, Nương níu đôi năm khỏe tự nhiên. Kính có công tu nay gặp hội, Tặng mình hữu hạnh phục quy nguyên. Lục lạc khua ran cả Ngũ châu, Nương chi vật chất phải âu sầu. Kính xin tỉnh giấc lo tu sớm, Tặng quyết cầu ân cổi ách sầu. Thất thế náu nương chớ tưởng lâu, Nương cùng quý vị chỉ đường cầu. Kính đem đến tận bờ dương liễu, Tặng nghĩa đài sơn kẻ chực chầu. Bát du hành khất bữa mơi chiều, Nương nưởng mình to giống kẻ thiêu. Kính đến Tây Phương tầm Xá Lợi, Tặng tình đồng Đạo phải đồng yêu. Cửu Thiên mở cửa rước người hiền, Nương chí dắt dìu khách hữu duyên. Kính lập công to quy tựu vị, Tặng tiền phát khởi lập căn nguyên. Thu cúc hứng sương khách kiếm mùi, Chín Bà cùng Mẹ đến chung vui. Thương nhau tìm kiếm chừng nào gặp, Công đức vẹn toàn sẽ hiệp ngôi.

Năm1927 (âl. Đinh Mão): Đức Chí Tôn dạy về việc Ca Bảo Đạo qui vị

Chùa Gò Kén (Thánh ngôn ngày anh Bảo Đạo qui vị, năm Đinh Mão 1927). Thầy Các con, Đại lụy! Cái thảm trạng chia lìa ngày nay có thể làm cho các con vì đau đớn mà biết thương yêu nhau chăng? Thảm! Từ thử có một mình Bảo Đạo là niên cao kỷ trưởng hơn các con hết, mà buộc Thầy phải đem về thì tưởng các con đủ biết mình là côi cúc về đường đời, không ai đủ trí thức hoàn toàn mà binh vực các con nữa, thì mới biết lập mình có đủ khôn ngoan tài tình đạo đức thì địa vị các con mới trở nên cao đặng.

Thầy đôi phen phải buộc lòng lấy hình phạt mà làm ra phần thưởng. Các con đã hiểu Đạo đặng chút ít, Thầy tưởng chẳng cần phải cạn lời, Thầy khuyên các con lấy Chương làm giây thân ái mà buộc nhau, mới đặng hòa nhã nơi Hiệp Thiên Đài. Thầy cho phép các con làm lễ táng cho nó long trọng hầu nêu gương cho hậu tấn. Tắc, phải biểu Cư xuống cho kịp làm lễ y như lời Thầy dạy đám táng của Thụ.

Nhớ làm đừng bỏ nữa nghe. Thầy cũng nhắc lại với các con rằng: Đủ 3 năm phải thiêu hài cốt, lên tượng đặng đem nó vào Bát Quái Đài nghe. Nơi mộ nó phải để quan tài khỏi mặt đất một tấc mà đắp xây tháp y như lời Thầy đã dặn. Trên mặt tháp đề chữ vàng: “Bảo Đạo Chơn Quân” nhớ à! Thầy thăng. Thi Của Bảo Đạo Cho Lúc Lâm ChUnG:

Từ nay ra khỏi chốn nhơn gian, Thủy tú sơn tinh thích chí nhàn. Vì bởi lục căn lòng chẳng bợn, Cho nên mới đặng nhập Tiên Bang.

Bảo Đạo Chơn Quân (Chung Lưu đề).