Q.I · Bài 20–26 · Ất Sửu

Ngày 27-11-1925 (âl. 12-10-Ất Sửu): Quí Cao, Thất Nương thi văn

Ngày 27 tháng 11 năm 1925 QUÍ Cao

Tử sanh dĩ định tự Thiên kỳ, Tái ngộ đồng hoan hội nhất chi. Bắc Ngụy quan vân tâm mộ hữu, Giang Đông khán thụ lụy triêm y.

Ngày 28 tháng 11 năm1925 Thất Nương (Giải Nghĩa Hai Câu Chót) Bắc Ngụy quan vân tâm mộ hữu, Giang Đông khán thụ lụy triêm y. Khi Như Hoành ở Bắc Ngụy đi thuyết chiến bên Giang Đông gặp Bạch Hàm thì tâm đầu ý hiệp, kết làm anh em. Khi Như Hoành về Ngụy thì anh em khó phân tay. Như Hoành than rằng: “Bắc Ngụy văn thiên thụ”. Bạch Hàm than rằng: “Giang Đông nhất mộ vân”. Nghĩa là: Ngó Bắc Ngụy nghe ngàn cây đưa tiếng bạn.

Nhìn Giang Đông thấy khóm mây vẽ hình anh.

Ngày 24-11-1925 (âl. 09-10-Ất Sửu): Thất Nương giải nghĩa: “Phụng hàm đơn chiếu đề dương bạn” & Thất Nương giải nghĩa: “Trải bao thỏ lặn ác tà” & Lục Nương thi & A.Ă. thi

Thất Nương Giải nghĩa: “Phụng hàm đơn chiếu đề dương bạn ” Là phụng ngậm chiếc chiếu về bờ dương. Dương là đại thọ. Đạo Đức Chơn Kinh có câu: Dương vô trần nhiểm, đạo giả như dương. Kinh Phật có câu: Dương thủy năng hủy tam đồ khổ hải chi tội. Dương bạn: là bờ dương, là nền đạo đức. Chim phụng ngậm chiếc chiếu về bờ dương, nghĩa là Phụng liễn của Tây Vương Mẫu đòi về nền đạo đức. 24-11-1925 Thất Nương Giải nghĩa: “ Trải bao thỏ lặn ác tà” Ngôn Đường Thi có câu: Nha phi Đông Hải chí Tây Sơn nhứt nhựt trường.

Con chim ác bay về biển Đông tới núi Tây thì giáp một ngày. Mượn điển văn ấy mà chỉ rằng: Mặt Trời sớm mai mọc tại hướng Đông, chiều lặn về hướng Tây. Khuất bóng ác tức khuất bóng mặt Trời, thì qua một ngày. “Vừng ô” không có điển văn. Thi văn có câu: “Ô Thước qui sơn”. Quạ bay về núi. Đã biết rằng, hễ chiều thì biết bao nhiêu loài chim bay về núi, song đem quạ mà chỉ rằng chiều tối thì phải hơn, vì quạ đen lông đen cánh.

Lục Nương

Chanh ranh vạn thế ở trong vòng, Giành giựt lẫn nhau miếng đỉnh chung. Khanh Tể sao bằng tên Đạo Sĩ, Hết đời ai giữ chức làm ông.

A.Ă.â

Người hứng trăng thanh kẻ bụi vùi, Âm dương cách trở chẳng cùng vui. Hạc mây đã khỏi lâm trần cấu, Cõi tục thương người xúc dạ tôi.

Ngày 15-12-1925 (âl. 30-10-Ất Sửu): Bồng Dinh xướng thi & Lục Nương họa

Bồng Dinh (Xướng)

Dã Tràng ai dễ xét công đâu? Bãi biển thường xe cát lấp đầu. Xúc cát trải bao cơn sóng lượn, Nhăn mày cười bởn khúc sông sâu.

Biết không nên việc nơi Trời nước, Nào có nao lòng cuộc bể dâu? Nhiều ít có danh trên võ trụ, Kẻo mà thẹn với mấy bầy trâu.

Lão Bồng 15-12-1925 (30-10-Ất Sửu) Lục Nương (Họa)

Công Dã Tràng công cán để đâu, Muốn ngăn sóng cả khỏa ngang đầu. Đất vò nên lọn xây thành lở, Nước dập tuông bờ lở giạu dâu.

Đấp biển vì lo bờ biển lở, Moi sông bởi muốn ngọn sông sâu. Nên hư trối mặc đời phi thị, Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

Ngày 16-12-1925 (âl. 01-11-Ất Sửu): Vọng Thiên Cầu Đạo

Vọng Thiên CẦU Đạo Ngày 27-10-Ất Sửu Bà Cửu Thiên Huyền Nữ giáng mách bảo rằng: Mùng một nầy, tam vị Đạo Hữu Vọng Thiên Cầu Đạo (1) Bà thăng rồi ba ông hợp nhau bàn giải không hiểu cầu Đạo là gì mà Bà dạy, để cầu hỏi mấy em. Ngày sau ba ông cầu Thất Nương hỏi: – Thất Nương dạy dùm cầu Đạo là gì? Thất Nương nói: – Không phải phận sự của em, xin hỏi ông A.Ă.Â. Ngày sau nữa, có các Đấng giáng về ba ông hỏi thì các Đấng cũng nói: Không phải phận sự của tôi xin hỏi ông A.Ă.Â.

Ngày 30 tháng 10 năm Ất Sửu (15-12-1925) ông A.Ă. giáng dạy rằng: – Ngày mùng 1 tháng 11 nầy (16-12-1925), tam vị phải Vọng Thiên Cầu Đạo. Tắm gội cho tinh khiết ra quỳ giữa Trời cầm chín cây nhang mà vái rằng: Ba tôi là: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang. Vọng bái Cao Đài Thượng Đế, ban ơn đủ phúc lành cho ba tôi cải tà qui chánh. Sớm mai ngày mùng Một, ông Cao Quỳnh Cư đi mượn Đại Ngọc Cơ của ông Tý ở ngang nhà (cũng ở đường Bourdais).

Nhớ lời ông A.Ă. dạy, ba ông quỳ ngoài sân sắp đặt có một cái bàn nhỏ, quỳ chống tay trên bàn, cầm 9 cây nhang vái: Ba tôi là: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang. Vọng bái Cao Đài Thượng Đế, ban ơn đủ phúc lành cho ba tôi cải tà qui chánh. Ba ông cứ tịnh tâm mặc niệm vái như lời ông A.Ă. dạy, không nhớ tới cái vụ quỳ ngoài đường có kẻ qua người lại dập dìu, lớp thì xe cộ họ đi chơi, đi coi hát về, họ dừng chân lại coi ba ông nầy cúng vái ai mà quỳ ngoài sân cỏ như vậy.

Ai coi mặc ai ba ông cứ quỳ đó cầu khẩn van vái cho tàn hết 9 cây nhang, bổng đâu có anh Bồng Dinh đến vịn cái bàn chỗ ba ông đương quỳ mà ngâm thi, thiên hạ đi đường nghe ảnh ngâm nên xúm lại coi. Cúng cầu khẩn xong rồi, vô nhà kế tới giờ Vọng Thiên Cầu Đạo (cũng đêm 16-12-1925). Đức Cao Đài giáng viết chữ Nho; ba ông không hiểu chữ Nho, nên khi Đức Cao Đài thăng rồi thì ba ông thỉnh cái bàn ra mời ông A.Ă. Đại Tiên xin giảng nghĩa bài thi tứ cú của ông Cao Đài trên đây. Ông A.Ă. nói: – Cao Đài Thượng Đế ý nói nhị... phải nghĩ cho thấu, ông A.Ă. cho bài thi cũng trong giờ nầy:

Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng, Tự nhiên tu tánh đặng bình an. Nguyệt hoa căn tội tua xa lánh, Vịn lấy nhành dương hưởng Đạo nhàn.

(1) Ngày Vọng Thiên Cầu Đạo là sắp vô đề mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Các Đấng dìu dắt ba ông lần lần, nghĩa là ba ông mới nhập trường Đạo. Phụ lục: Ảnh Ngọc Cơ.

Từ ngày 06-12-1925 đến 23-12-1925 (âl. tháng 10 & tháng 11 Ất Sửu): Thi văn dạy Đạo của Đức Chí Tôn tá danh A.Ă. và các Đấng

A.Ă.â (Họa Bồng Dinh)

Nhớ tình nhả ngọc với gieo vàng, Bồng đảo trần gian cách trở đàng. U hiển không từ nhơn nghĩa cũ, Gặp nhau xin phó bóng thiều quang.

Nước trí non nhân hứng Đạo thoàn, Một bầu nhựt nguyệt nỗi mênh mang. Đờn tòng réo rắt gieo hơi oán, Nhạc suối ro re trỗi khúc xang.

Chim nước chào người bay rộn rực, Cây che tiếp khách bước an nhàn. Dừng chơn ngó lại miền nhơn sự, Thương kẻ lo đời chẳng rảnh rang.

Vịnh Mai

Mai là cốt cách liễu tinh thần, Thi thiệt hồn mai tuyết ấy trần. Mai tuyết không thi mai tuyết não, Thi không mai tuyết thế không xuân. Cũng đồng địa vị cũng đồng đường, Hứng tuyết tìm mai dưới giọt sương. Mai tuyết hiệp đôi mai tuyết đẹp, T uyết giành trong sạch mai giành hương. Nhơn vô tùng thế tắc tùng thiên, Ưu lự trần gian ý vị nhiên. Mạc hối tiền trình căn dĩ định, Tự nhiên dĩ hậu phản như tiền.

Minh Nguyệt Tiên Ông

Chẳng quản đồng tông mới một nhà, Cùng nhau một Đạo tức một cha. Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi, Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa. A.Ă.â. Mừng thay gặp gỡ Đạo Cao Đài, Bởi đức ngày xưa có buổi nay. Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc, Gìn lòng tu tánh chớ đơn sai. Có cơ có thế có tinh thần, Từ đấy Thần Tiên dễ đặng gần. Dưỡng tánh tu tâm tua gắng sức, Ngày sau toại hưởng trọn Thiên ân.

Bà Thiên Hậu (Cho Ông Cao Quỳnh CƯ)

Hỏi số từ thân sẽ thế nào? Tám mươi gần mãn số Thiên Tào. Cháu con sum hội yên thân lão, Sung túc dài dòng dõi họ Cao.

Thất Nương

Đã cùng nhau trót mấy lời giao, Cách mặt mà lòng chẳng lảng xao. Đàng Đạo càng đi càng vững bước, Cõi Thiên sau ắt hội cùng nhau.

Một nhà vầy hội rất mừng thay, Đạo Thánh từ đây đặng vẹn ngay. Một bước một đi đường một tới, Lòng thành xin trọng thấu Cao Đài.

Lục Nương

Từ khi hiệp mặt buổi Trung Thu, Cảm tình nhìn biết đứa em ngu. Một chung háo nghĩa bằng vàng nén, Phòng sau hội ngộ chỉ đường tu. Cha chả hèn lâu chẳng viếng thăm, E chư huynh trưởng trách em thầm. T uy cách xa mặt lòng không cách, Buồn dở thơ hòa đọc lại ngâm.

Bạch Nhẫn Đại Tiên

Ngọc Cung gìn giữ động Đình T uyền, Đại Đế ban ơn chưởng trọn quyền. Tam Giáo lành khen cùng ác trị, Dạy đời biết trọng lấy ân Thiên.

Bát Nương

Lửa lòng rưới tắt mượn nhành dương, Vì nghĩa sơ giao phải đến thường. Còn gánh đồ thơ tua vẹn giữ, Dứt dây oan trái chớ riêng thương.

Mừng nay Thanh Thủy giải dây oan, Đường Đạo từ đây bước vững vàng. Tình ái nhành dương đem rưới tắt, Nắm tay dìu lại cõi Tiên bang.

Huệ Mạng Trường Phan

(Là ông Thầy Chùa nhỏ trong núi Điện Bà). Trước ước cùng nhau sẽ hiệp vầy, Nào dè có đặng buổi hôm nay. Gìn lòng tu niệm cho bền chí, Bồng Đảo ngày nay đặng hiệp vầy. Tây Ninh tu luyện động Linh Sơn, Chẳng quản mùi trần thiệt với hơn. Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp, Công hầu vương bá dám đâu hơn.

Ngày 25-12-1925 (âl 10-11-Ất Sửu): Thi văn dạy Đạo của Đức Chí Tôn tá danh A.Ă. và các Đấng

25-12-1925 Noel A.Ă.â Cao Đài đã hiểu lòng của ba đệ tử: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang. Ngài đã ban đầy ơn cho mỗi người, đêm nay phải vui mừng vì là ngày của Thượng Đế xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây (Europe). Ta rất vui lòng đặng thấy ba đệ tử kính mến Ta như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta. Giờ ngày gần đến đợi lịnh nơi Ta. Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa.

(Cúng tại nhà ông Cao Quỳnh Cư, đường Bourdais, số 134 SàiGòn). A.Ă.â

Trước vốn thương sau cũng thương, Một lòng nhơn đức giữ cho thường. Trông ơn Thượng Đế tuông rời rộng, Sum họp ngày sau cũng một trường.

hớn Thọ Đình Hầu

Tiết nghĩa trung cang Hớn đảnh xây, Phò Lưu dựng Thục một lòng ngay. Kinh Châu thất thủ nơi Thiên định, Khiến Hớn vận suy mới đổi thay.

A.Ă.â

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền, Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên. Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế, Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Thầy khuyên trước một giờ nầy, phải cầu nguyện cùng Ngài và nên coi là ngày vui mừng. Lý Bạch (noel 1925)

Đường trào hạ thế hưởng tam quan, Chẳng vị công khanh chỉ hưởng nhàn. Ly rượu trăm thi đời vẫn nhắc, Tánh Tiên muôn kiếp vốn chưa tàn.

Một bầu phong nguyệt say ngơ ngáo, Đầy túi thơ văn đổ chứa chan. Bồng Đảo còn mơ khi bút múa, Tả lòng thế sự vẽ giang san.

ĐỒ MỤC Tiên (Họa Lý Bạch)

Chẳng kể công khanh bỏ ấn quan, Bồng Lai vui Đạo hưởng an nhàn. Thi Thần vui hứng ngoài rừng trước, Rượu Thánh buồn say dưới cội tàn.

Nồng hạ trời thương đưa gió quạt, Nắng thu đất cảm đổ mưa chan. Vân du thế giái vui mùi Đạo, Mơi viếng kỳ sơn tối cẩm san.

Lục Nương

Vui nhơn vui Đạo lại vui thiền, Vui một bước đường một bước yên. Vui bóng Cao Đài che khắp chốn, Vui gương Ngọc Đế thấy như nhiên.

Vui ngàn thế tải ngăn nhơn sự, Vui một màu Thiên đóng Cửu tuyền. Vui vớt sanh linh nơi bể khổ, Vui Trời rưới khắp đủ ân Thiên.

Noel 1925 *** Trước vẫn tiếng hứa lời không tìm biết danh Đại Tiên sao nay còn hỏi. (1) Ba con chưa đặng thông đạo đức cho lắm! Thầy phải dằn ý nói, sau sẽ rõ, vì ba con cần dùng người (2) chỉ dẫn nữa.Thầy để vậy cho có người chỉ dẫn ba con mọi việc đều do nơi Thầy, con đừng lo lắng. Cư! Không phải vậy, trước sau như một. Cư bạch: – Tôi đã có xin ăn chay thêm hai ngày 30 và 15 đặng tinh khiết mà cúng Đức Cao Đài Thượng Đế.

A.Ă.Â: Hay lắm... Chỉ trông cho ba vị đi càng ngày càng vững trên đường Đạo. Ái nhơn... sẽ dẫn giải lần một ngày một tí... Xin kiếu. 25-12-1925 (1) Nghĩa là ba ông hỏi ông A.Ă. là ai cho ba ông biết, nên ông A.Ă. trả lời trước đây, vì ba ông chưa biết lập Đạo. (2) Người chỉ dẫn là Cửu Nương Diêu Trì Cung và các Đấng.

Ngày 31-12-1925 (âl. 16-11-Ất Sửu): Đức Chí Tôn tá danh A.Ă. xưng danh THẦY & Thánh St Piere thi

31 Décembre 1925 A.Ă.â Ba con thương Thầy lắm há? Con thấy đặng sự hạ mình của A.Ă. như thế nào chưa? Con có thấy thấu đáo cái quyền năng của Thầy chưa? Người quyền thế nhứt như vậy có thể hạ mình bằng A.Ă. chăng? A.Ă. là Thầy. Thầy đến con thế ấy, con thương Thầy không? Cao Quỳnh Cư bạch: – Thấy nhơn sanh chưa rõ sự huyền diệu của Thầy, họ nói phạm thượng, ba con binh vực Thầy, ba con cải vã với họ.

Thầy biết... Cười... Sự nhỏ nhẹ của Thất Nương đó, con bằng mảy mún gì chưa? Học hỏi sự nhỏ nhẹ ấy. Sự cao kỳ của Lục Nương, con có đặng mảy mún gì chưa? Học sự cao kỳ ấy. Sự nhân đức của Nhất Nương, con có chút đỉnh gì chưa? Phải học nhân đức của Nhất Nương. Tình nghĩa yêu mến của con có bằng Bát Nương không? Phải học. Phải học tình nhân ái, trung tín, cứu giúp của ba con có đặng như Cửu Thiên Nương Nương chăng?

(1) Phải học gương. Sự kính nhường ba con có bằng Cửu Nương chăng? Phải học. (1) Cửu Thiên Nương Nương là Đức Phật Mẫu. 31 Decembre 1925 ST Piere

Thiên đàng giữ cửa góc Trời Tây, Truyền Đạo cho dân biết mặt Thầy. Cứu chuộc đã gần đôi ngàn tuổi, Cao Đài phú thác dắt dìu bây.