Thi Văn Dạy Đạo — Phần 3

14–1–1926 Ông Đốc Bản xin chấp bút,

THẦY,

Bút nở mùa hoa đã có chừng, Chẳng như củi mục hốt mà bưng. Gắng công ắt đặng công mà chớ, Buồn bực rồi sau mới có mừng.

Tu như cỏ úa gặp mù sương, Đạo vốn cây che mát mẻ đường. Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng, Đôi năm mệt nhọc vạn năm bường.

Có thần nuôi nấng thần càng mạnh, Luyện khí thông thương khí mới tường. Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn, Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương.

Quí Cao 16–1–1926

THẦY

Thiệt thiệt hư hư dễ biết chăng? Hành tàng chơn đạo gọi sao rằng. Khai Thiên lập Địa ai là chủ? Thánh Phật là ai dám đón ngăn.

21–1–1926

Mặt nhựt hồi mô thấy xẻ hai, Có thương mới biết đấng Cao Đài. Cũng con cũng cái đồng môn đệ, Bụng muốn phân chia hỏi bởi ai?

21–1–1926

Chín Trời mười Phật cũng là Ta, Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba. Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ, Thánh, Tiên, Phật Đạo vốn như nhà.

23–1–1926

LỤC NƯƠNG

Công quả ngày xưa thiệt chẳng hèn, Nợ trần bước tục phải đua chen. Võ đài chờ trả rồi oan trái, Xủ áo phồn hoa lại cảnh Thiên.

27–1–1926 Khai Đàn Cao Quỳnh Cư:

THẦY,

Đã để vào Tòa một sắc hoa, Từ đây đàn nội tỷ như nhà. Trung thành một dạ thờ Cao sắc, Sống có Ta thác cũng có Ta.

Đài sen vui nhánh trổ thêm hoa, Một Đạo như con ở một nhà. Hiếu nghĩa tương lai sau tựu hội, Chủ trung Từ Phụ vốn là Ta.

27–1–1926

LÝ BẠCH

Có công phải biết gắng nên công, Tu tánh đã xong tới luyện lòng. Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục, Đơn tâm khó định lấy chi mong.

21–7–1926

THẦY

Một ngày thỏn mỏn một ngày qua, Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa. Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ, Cửa Thiên xuất nhập cũng như nhà.

Cương tỏa đương thời đã giải vây, Đừng mơ oan nghiệt một đời nầy. Hữu duyên độ thấu nguồn chơn đạo, Tu niệm khuyên bền chí chớ lay.

28–1–1926 Thầy vui vì các con thuận hòa cùng nhau; Thầy muốn cho các con như vậy hoài, ấy là một lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. 29–1–1926

THẦY,

(Khai Đàn cho Ông Lê Văn Trung)

Một Trời một Đất một nhà riêng, Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền. Cầm mối thiên thơ lo cứu chúng, Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

31–1–1926

THẦY

Dạy trẻ con toan trước dạy mình, Cái công giáo hóa cũng đồng sinh. Đạo đời tua biết rằng đời trọng, Một điểm quang minh một điểm linh.

23–2–1926 Thi Văn Dạy Đạo

1

Khổ đời muốn lánh gắng tìm phương, Giành giựt đừng mong chác thế thường. Xạo xự tuồng đời lừng bợn tục, Trau tria nét đạo nực mùi hương.

Rừng Thiền ngàn dặm Trời soi bước, Biển khổ muôn chia khách lạc đường. Gặp được nẻo ngay đời có mấy? Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương.

2

Gắng sức trau giồi một chữ tâm, Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm. Tâm thành ắt đạt đường tu vững, Tâm chánh mới mong mối Đạo cầm.

Tâm ái nhân sanh an bốn biển, Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm. Đường tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn, Có buổi hoài công bước Đạo tầm.

3

Phải giữ chơn linh đặng trọn lành, Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh. Luật điều Cổ Phật không chừa tội, Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.

Chánh trực kinh oai loài giả dối, Công bình vừa sức kẻ chơn thành. Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn, Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

4

Màn Trời đã vẹt ngút mây trương, Bước tới Đài Hoa thấy tỏ tường. Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo, Lối mòn động Bích chớ lầm đường.

Chánh tà đôi nẻo tua tầm chước, Hư thiệt muôn phần gắng định phương. Mê tỉnh chuông khua phân biệt tiếng, Rừng thiền nô nức loán mùi hương.

5

Tìm Đạo mà chi khá hỏi mình, Bến mê mới vững vớt quần sinh. Vun trồng cội phúc ơn chan thấm, Dong ruổi đường Tiên nghĩa tạc gìn.

Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh, Lòng thanh nhờ lẫn lóng hơi thanh. Thiên cơ tuy hẳn nêu trường khảo, Lướt khỏi, ngàn thu quả đắc thành.