Thi Văn Dạy Đạo — Phần 4
6
Đổi tục về Tiên sắc đượm nhuần, Rưới chan cho khắp giọt hồng ân. Rừng tòng thanh nhã say mùi Đạo, Bể khổ mênh mang vớt khách trần.
Linh dược đầy bầu là cội ái, Kinh luân nặng túi ấy nguồn nhân. Buồm trương lái vững chờ sông lệ, Đưa chiếc thuyền sen dựa đảnh Thần.
7
Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường, Cho roi cho vọt mới là thương. Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục, Thế giới mong chi phép độ lường.
Nhỏ dạy Thầy nuôi mùi Đạo hạnh, Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương. Vinh hoa phẩm cũ ngôi xưa đó, Khổ cực các con chớ bỏ trường.
8
Trau giồi giữ xứng phận nga mi, Tấn thối riêng lo kịp thế thì. Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt, Hồng ân chi kém bạn nam nhi.
Lọc lừa chớ để đen pha trắng, Lui tới đừng cho bạc lộn chì. Hạnh đức điểm tô non nước Việt. Muôn năm bia tạc tiếng còn ghi.
9
Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân, Trở bước quanh co rán liệu chừng. Hứng giọt Ma Ha lau tục lụy, Ngừa thuyền Bát Nhã thoát mê tân.
Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh, Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần. Phước gặp Tam Kỳ Trời cứu độ, Gắng tu kịp buổi lướt Đài Vân.
10
Rừng thiền nhặt thúc tiếng chuông trưa, Phước gặp về Ta buổi đã vừa. Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thấm, Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.
Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi, Dữ tận hiền thăng khách lọc lừa. Mùi Đạo gắng giồi lòng thiện niệm, Duyên mai tìm lại phẩm ngôi xưa.
11
Rẽ lối non sông thấy Động đào, Bừng con mắt tỉnh giấc chiêm bao. Đường gai gốc gắng lần qua khỏi, Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.
Mùi tục lần xa, vui đạo đức, Cõi tâm rộng mở khổ giồi trau. Nước dương rưới sạch trần ai cũ, Bờ giác nương theo nguyệt rọi làu.
12
Cần lo học Đạo chí đừng lơi, Phú quí sương tan lố bóng Trời. Lợi lộc xôn xao rồi một kiếp, Nghĩa nhơn tích trữ để muôn đời.
Làm lành sau cũng lành vay trả, Chác dữ âu hay dữ vốn lời. Mấy kẻ xét mình tâm tự cải, Thân danh bể khổ mặc buông trôi.
13
Lần lừa ngày tháng cảnh đưa xuân, Ướm chổi huỳnh lương tỉnh dậy lần. Rạng nẻo chung soi đèn Bạch Ngọc, Dò đường xúm núp bóng Hồng Quân.
Hồi chuông cảnh tỉnh vang rừng Thánh, Tiếng trống giác mê nhặt đỉnh Thần. Biết Đạo khá lo trau hạnh đức, Dữ lành đợi buổi cũng cân phân.
14
Ngày chầy dặm thẳng gắng đưa qua, Chịu khổ trau tâm chí mới già. Vẹt ngút mây xanh Trời tỏ rõ, Quét lằn bụi đỏ thế phui pha.
Lòng trần gội sạch noi đường chánh, Nét Đạo gìn thanh lánh nẻo tà. Đèn huệ chực soi mau tiến bước, Nơi miền cực lạc dễ đâu xa.
15
Đường về muốn vẹn để công trình, Bóng nguyệt tua dò nẻo rạng thinh. Xuân hé đã hay cơn ác lố, Đông tàn khá biết lúc Trời chinh.
Trau tài trau phận tua trau đức, Biết thế biết nhân mới biết mình. Dặm khổ qua rồi ngôi vị sẵn, Hay chi thế tục chước cầu vinh.
16
Nhiệm mầu Tạo hóa cuộc vần xây, Thưởng phạt cũng do một buổi nầy. Đức trước hưởng thừa tâm vẹn giữ, Nhân sau để dấu chí đừng lay.
Đường mây thẳng gió hồng trương cánh, Bước Đạo êm chơn nguyệt rọi mày. Dìu dắt sanh linh lo tế độ, Thiên niên danh tạc chốn Vân Đài.
17
Liễu Huệ nhuần sương Liễu Huệ tươi, Chiều Xuân nguyệt rạng vẻ hoa cười. Màn Trời mây khỏa muôn sao lố, Thuyền Đạo buồm treo một sắc phơi.
Cội trước gió đưa hơi nhắn khách, Rừng tòng khách giục cảnh chờ người. Lần theo bước rạng non Thần đến, Chớ luyến phồn hoa lụy đến nơi.
18
Vun nền đạo hạnh khá rèn lòng, Gặp hội đành vui chữ sắc không. Cúc rải đường qua vang tiếng nhạn, Rừng tà bóng khuất vẳng hơi thung.
Xuôi chiều đổ bến êm dòng bích, Phải lúc nương mây chớp cánh hồng. Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn, Mau chơn ngày tháng đã qua đông.
19
Rừng thung bóng nhựt đã hầu chinh, Tỏ rạng gần noi bước vẹn gìn. Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt, Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh.
Nâng đời khá gắng trau nhơn đức, Học Đạo tua năng luyện tánh tình. Khổ hạnh chí mong qui nẻo chánh, Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.
• Ấn bản năm Nhâm Tý (1972): Tỏ rạng gần nơi bước vẹn gìn. • Ấn bản năm Canh Tuất (1970): Tỏ rạng gần noi bước vẹn gìn.
20
Non chiều ác xế bóng Trời thâu, Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu. Theo bước kịp thì tìm ánh sáng, Ngừa thuyền ấy lúc lánh dòng sâu.
Soi gương hạnh đức trau lòng tục, Hứng giọt từ bi rửa bợn sầu. Nhặt thúc quang âm xuân đã lụn, Liệu qua cho khỏi cuộc tang dâu.