Thi Văn Dạy Đạo — Phần 5
21
Thìn trau đức tánh để nêu gương, May gặp đạo mầu gắng liệu phương. Cội Bắc chim về chiều ngã bóng, Non Nam ác lố ánh tan sương.
Thuyền từ sông lệ buồm trương cánh, Cảnh trí rừng thung khách lướt đường. Độ chúng cứu đời công nghiệp để, Thiên ân hưởng trọn khá lo lường.
22
Cành mai thơ thới đượm hơi xuân, Dìu dắt đem nhau lại đảnh Thần. Tích đức để lòng trau khổ hạnh, Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.
Lừng Trời vẹt ngút mây xây mịt, Đài ngọc khoe gương sắc rạng ngần. Công nghiệp dồi dào âm chất đủ, Long Hoa đợi hội hưởng Thiên ân.
23
Đã nhiều danh lợi bước đua tranh, Nhọc xác lao tâm hỏi có thành? Ác lố rọi tan lằn gió bụi, Nguyệt lờ soi gượng bước công khanh.
Đường tu ví sớm noi gương rạng, Cội phúc mai sau hưởng quả lành. Mộng ảo trò đời đâu mấy chốc, Ngựa qua cửa sổ cuộc tan tành.
24
Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen, Tánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn. Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa, Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.
Nhành dương nước rưới tan lòng tục, Nguồn Thánh đạo dìu lại cõi Tiên. Phước gặp kỳ ba Trời dẫn độ, Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.
25
Day mặt Hồng Quân ngó Địa hoàn, Rưới chan vạn vật khối sinh quang. Cõi Tiên mở rộng cung Đâu Suất, Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.
Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ, Độ đời cố tạo phước nhơn gian. Thần thông trói chặt Ma vương quái, Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.
26
Viết thử Thiên thơ với nét trần, Hầu sau bền giữ nghiệp Hồng Quân. Chuyển luân thế sự đưa kinh Thánh, Trừ diệt tà gian múa bút Thần.
Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng, Nầy xem nước Lỗ biến hình lân. Công danh nước Việt tay đành nắm, Mưa mốc dân sanh gắng gội nhuần.
27
Đường mây sẵn lối gặp may duyên, Nâng gánh xa thơ sửa mối giềng. Anh tuấn đất gìn nung khí phách, Uy linh Trời giữ tạc đài liên.
Hồn về nước cũ đời nương thế, Hạc lại tùng xưa đức lập quyền. Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố, Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.
28
Có hiệp đem đường nẻo mới thông, Phân chia cội Đạo uổng vun trồng. Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký, Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.
Bể khổ mênh mang lo giải khổ, Nền công nghiêng ngửa gắng nên công. Phong ba dầu được dìu qua khỏi, Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng.
29
Bạch Vân nhàn lạc khỏe thân già, Thương kẻ nặng mang nợ quốc gia. Đời rạng lưu tồn gương nhựt nguyệt, Đạo thành vạn đại chiếu sơn hà.
Thiện nam gắng giữ nền nhân nghĩa, Chơn nữ hằng ghi thuyết cộng hòa. Trách nhiệm thiệt hành cho vẹn phận, Hồng ân chung hưởng buổi âu ca.
30
Trần thế hầu gây náo nhiệt trường, Lánh nguy nguồn Đạo vẹn tìm phương. Vùi sầu nay gắng chung vai gánh, Hưởng phước sau may hiệp bước đường.
Cay đắng lần soi gương trí huệ, Chia phui chờ trải lối tang thương. Dặn mình tua chặt trong gang tấc, Sau trước lòng son giữ đặng thường.
31
Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền, Trả vay cho sạch vết oan khiên. Trường Đời đem thử gan Anh Tuấn, Cửa Đạo mới ra mặt Thánh Hiền.
Đau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn, Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng. Non sông Việt chủng ngày êm lặng, Chung sức cùng nhau đức lập quyền.
32
Những là khổ nhọc chịu cơ đời, Hạnh phúc thử nhìn đặng mấy mươi. Vinh nhục đòi phen vui lẫn khóc, Ghét thương lắm lúc giận pha cười.
Đường tâm tự tỉnh chơn ra giả, Nẻo đức gồm theo thiệt hóa chơi. Thoát tục ví ai tìm nẻo Thánh, Bến mê lướt sóng đến ven Trời.
33
Bóng dương tỏ rạng lố chơn mây, Đầm ấm hơi xuân nở mặt mày. Tranh thế bớt pha lằn bợn trược, Cuộc đời thêm rạng vẻ thanh bai.
Trường Tiên mở rộng chơn du khách, Nẻo hoạn buông khơi trí đặc tài. Lọc nước rửa đời Trời để dấu, Riêng che Nam đảnh một cân đai.
34
Ác lồng nhựt rạng tản sương mơi, Gặp lối đường quanh khó tách vời. Thuyền Đạo đẩy đưa lằn sóng biển, Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.
Đai cân mảng luyến chưa nên phận, Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi. Nhắn nhủ phồn hoa mau thức tỉnh, Lần lừa bỏ quá kiếp xuân thời.
35
Lồng sương gió thoảng bặt hơi xuân, Để bước tìm nơi Đạo gội nhuần. Sóng khỏa thuyền về còn lắc lở, Rừng chờ khách trở buổi cân phân.
Trau gương hạnh đức pha lòng tục, Giồi trí thanh cao giữ tánh Thần. Thưa nhặt thoi đưa trời xế bóng, Xét mình một khắc một mau chân.