Bài 25 — Thuyết đạo tại Đền Thánh, đêm 04 tháng 02 năm Kỷ Sửu (03–03–1949)
Trước khi giảng tiếp dục tấn trên Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Bần-Đạo có nhiều điều khuyên nhủ về phương pháp thuyết pháp, tức là thuyết đạo. Trót gần hai năm trường Bần Đạo đã tìm phương thế 2 cho toàn cả Thánh Thể của Đức Chí Tôn thuyết đạo. Cả thảy đều biết điều trọng yếu trong phổ tế nhơn sanh là thuyết pháp. Nhờ thuyết pháp mà chơn truyền của Đức Chí Tôn mới đến được với chúng sanh.
Nếu mình muốn thuyết pháp, tức nhiên mình cần có mục phiêu 5 để cho tinh thần tất cả thính giả chú ý vào. Tức là mình cầm cây phướn 6 thần dẫn thính giả đi vào nội dung bài thuyết pháp của mình. Bần Đạo thấy có một điều nên sửa chữa. Có người lên nói về đề tài Nam, nhưng lại đi qua đề tài Bắc. Chẳng khác nào Bần Đạo nói tôi tính đi Sài Gòn thì thiên hạ đều ngó về hướng Sài Gòn, tới chừng đi thì đi lên mé Nam Vang.
Thành ra không ai hiểu gì hết. Nghe thuyết pháp trọn bài mà không biết gì hết. Thuyết pháp tức nhiên phải có niêm luật 7 chớ không phải muốn nói gì thì nói. Bài thuyết pháp nó giống như bài Đường thi vậy. Phải có đề, có niêm luật, có bình trắc, có phá thừa, có trạng luận, có thúc kết. Đức Chí Tôn có dạy niêm luật thuyết pháp một cách kỹ lưỡng lắm. Cao Thượng Phẩm và Bần Đạo có tập hai ba tháng vậy.
Hễ Cao Thượng Phẩm lên đài thuyết thì Bần Đạo làm thính giả ngồi nghe. Cần phải tập, không tập không thể gì làm được. Phải tuân theo niêm luật giống như làm một bài Đường thi vậy. Không thể gì nói càn đặng. Ngoài niêm luật ấy ra còn phải Phù, Tỷ, Hứng thú nữa. Phải học cho thuộc lòng. Bài văn nói hay thì lời nói phải có mực thước, có phù ba, có văn chương. Người nói phải có tài khẩu thuyết mới được.
Không được khuẩn bức túng thiếu trong lời nói 9 của mình. Tỷ là lên đó mình phải “Quang tiền dụ hậu”10 lấy cổ suy kim để suy tầm những lý lẽ cao sâu. Hứng là mình phải nói sao cho ăn khớp với tình huống hiện đang xảy ra trong Đạo lẫn ngoài đời. Bài thuyết đạo của mình hay ho là nhờ tinh thần hứng thú, tuỳ theo 1 bài thơ làm theo qui luật của đời Đường bên Tàu. Đa số văn chương cổ Việt Nam thuộc loại này. 2 hai câu mở đầu của bài thơ Đường luật. 3 luật bằng trắc, qui đ ịnh về âm thanh khi làm thơ ở Việt Nam thời xưa. 4 theo luật thơ Đường, một bài thơ phải có 8 câu, mỗi câu 7 chữ.
Câu 1 gọi là phá đề, câu 2 gọi là thừa đề, câu 3 và 4 gọi là thực hay tr ạng, câu 5 và 6 gọi là luận, câu 7 và hoàn cảnh mà giải thích cho thính giả thấu đáo. Bây giờ muốn thuyết pháp cho trúng và không lạc đề thì phải có Kinh, Điển, Luật. Kinh là Tứ Thư, Điển là Ngũ Kinh, Luật là tất cả luật trị thế từ cổ chí kim. Ba loại tài liệu này sẽ là cơ sở đặng mình chuẩn bị bài thuyết pháp.
Mình phải ráng cần mẫn học tập. Ấy là một điều chẳng phải d ễ, nhưng ta phải làm để thay thế cho lời nói của Đức Chí Tôn. Ta phải đem chơn truyền của Ngài đến với tinh thần của nhơn loại. Nếu mình làm không đặng cũng như mình làm cho Đức Chí Tôn câm vậy! Từ đây về sau Bần Đạo siết chặt lại là phải ngồi nghe. Hễ còn nói bậy nữa Bần Đạo sẽ phạt nặng đa nghe. Đã gần hai năm rồi, không dung thứ nữa được.
Bần Đạo cho hay trước, có bị phạt đừng than đừng trách, đừng nói khó khăn gì hết. Hôm nay Bần Đạo giảng tiếp cái chánh trị của Càn Khôn Vũ Trụ. Từ trước Bần Đạo đã có nói cái quyền chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ do nơi đâu mà có. Phương pháp trị Càn Khôn Vũ Trụ xét ra là tự trị. Ta trị ta, cả nhơn loại tự trị lấy mình. Càn Khôn Vũ Trụ minh mông đại hải, vô biên, vô giới, nếu lập luật, định quyền, thì không có quyền nào cầm nổi.
Toàn bộ hoạt động của Càn Khôn Vũ Trụ dựa vào một bí mật: đó là mỗi cá nhân đều tự trị lấy mình. Nghĩa là chính chúng ta nắm trong tay quyền năng xử đoán vô biên của Đức Chí 12 bốn tác phẩm căn bản của Nho Giáo: Đạ i Học, Trung Dung, Luận Ngữ, M ạnh Tử. 13 năm quyển sách cơ bản của Nho Giáo: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh D ịch, Kinh Xuân Thu. 14 quá sức rộng lớn. 15 không có giới h ạn.
Tôn đó vậy. Bần Đạo đã nói mình không thể chối cái án của mình, cũng không có cãi để thoát tội. Vì chính mình trị lấy mình, chính mình xử đoán cho mình và chính mình định hình phạt cho mình, thì còn miệng lưỡi nào mà chối cãi. Quyền xử đoán ấy vô cùng vững chắc đó vậy. Cá nhân tự trị, đó là quyền chánh trị của Càn Khôn Vũ Trụ. Ngoài ra không có gì khác nữa. Còn trường quan lại 1 của Đức Chí Tôn chỉ để giúp cho Càn Khôn Vũ Trụ hoạt động mà thôi.
Các Đấng Thiêng Tiêng không có trực tiếp xét xử các Chơn-Linh. Chính vì mọi Chơn-Linh đều có quyền tự trị lấy mình nên nền chánh trị Vũ Trụ vô cùng vững vàng chắc chắn. Bần Đạo có nói rằng chúng ta rất sợ tông đường của mình phải chịu tội chung với mình nơi Cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống. Tất cả tông tộc thiêng liêng của mình phải chịu nhục nhã, chịu chê bai biếm nhẻ, bị từ bỏ, chỉ vì mình phạm tội tình.
Cái đó mới đáng sợ. Bần Đạo đã nói rõ tự trị chính là chơn lý của nền chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ. Vậy hỏi nơi thế gian này chúng ta có tự trị được như vậy chăng? Được chớ! Đây, Bần Đạo chỉ cho cả thảy đều thấy Việt chủng chúng ta dưới ảnh hưởng văn minh Trung Hoa đã đạt được trình độ chánh trị như thế. Bần Đạo đã nói trái địa cầu này đã trải qua ba chuyển kiếp rồi. Kiếp trước khi đến Thất Chuyển, toàn bộ bề mặt địa cầu đã bị tiêu diệt.
Kiếp này nó đã tiến hoá đến Tam Chuyển. Đến Thất Chuyển nó sẽ tiêu diệt lần nữa. Trong Đệ Nhứt Chuyển thì con người duy họp thành nhóm vài người để tự vệ. Vì buổi ấy muông thú mạnh hơn người, cho nên trong xã hội thời kỳ ấy con người tự vệ là chính. Tới Đệ Nhị Chuyển là thời kỳ phát triển về thủ công. Mường mán này hiệp với mường mán khác đặng chống chọi với thú dữ. Ngoài ra, thời tiết buổi ấy không được ôn hoà như bây giờ, nên phát sinh nhiều bịnh chướng.
Do đó, con người phải tạo ra công cụ và vũ khí để đối phó. Trong Đệ Tam Chuyển, phát triển xã hội hiệp chủng. Xã hội là gì? Là hình ảnh của hệ thống chánh trị trên Cõi Thiêng-Liêng kia. Xem xét lại thì giờ phút này đã mãn Tam Chuyển bắt đầu Thượng Ngươn Tứ Chuyển. Đây là hồi nhơn loại tiến đến chỗ tương hợp với nhau, tức là thuyết đại đồng 8. Nhơn loại phải lập ra nơi mặt địa cầu này một nền chánh trị vững chắc mới dung hợp 9với nhau đặng.
Nghĩa là bắt đầu tạo ra nền chánh trị hiệp chủng đại đồng cho nhơn loại. Thực ra, nước Tàu đã đoạt được bí pháp ấy. Các tông đường như họ Lưu, họ Trần, họ Lê, họ Lý đều 4 lần thay đổi lớn. 5 giai đo ạn thứ 7. có cách tự trị Bởi cớ cho nên nhà Vua không bao giờ gặp khó khăn trong việc trị nước. Phần tử trong tông đường nào mà phạm vào tội gì, thì cả tông đường phải chịu trách nhiệm với triều đình.
Vì cớ cho nên, nền chánh trị của nước Trung Hoa tối cổ vững chắc mạnh mẽ phi thường. Nếu có nghiêng đổ là tại họ phế cổ tùng kim, hủy hoại nền chánh trị tối cổ quí báu mạnh mẽ xưa kia vậy. Phương pháp chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ cũng dựa trên tông đường giống như Trung Hoa vậy. Còn Việt Nam cũng giống như Trung Hoa, chúng ta đã có nền chánh trị về tông đường từ xưa. Muốn cho thiên hạ đại đồng thì ít ra các tông đường phải hiệp trước đã.
Phải đi từ cái nhỏ mà đến cái lớn. Cho nên Bần Đạo khuyên nhủ Phước Thiện tạo dựng tông đường trở lại như xưa. Đó là bí pháp tiến tới đại đồng, là cơ quan chánh trị của nước Việt Nam, là bổn nguyên 4 quí hoá, chắn chắn hơn cả ngày xưa vậy. n Bài 26 ĐỨC HỘ PHÁP