Bài 4 — Thuyết đạo tại Đền Thánh, đêm 12 tháng 9 năm Mậu Tý (14–10–1948)

Dương lịch: 14–10–1948 · Âm lịch: 12 tháng 9 năm Mậu Tý

Đền Thánh, Tòa Thánh Tây Ninh

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

Bần-Đạo giảng tiếp Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Kỳ trư ớc Bần-Đạo đã dẫn các bạn đến Bát Quái Đài, tưởng cả thảy đều nhớ. Hôm trước Bần Đạo chỉ giảng về bài học của chúng ta khi vượt qua khổ hải 3 để đến Bát Quái Đài. Hôm nay, Bần Đạo giảng tiếp, tại sao chúng ta lên Bát Quái Đài bằng con đường khác hơn con đường những kẻ khác? Vì những kẻ khác bị một cây cầu ngăn cách giữa khổ hải và Bát Quái Đài.

Cầu ấy buộc họ không thể gì đến Bát Quái Đài, phải thối bước. Thảm trạng của họ không thể gì tả được. Sự thối bước đó diễn tiến trước mắt chúng ta khiến không có người nào cầm giọt lụy của mình đặng. Ngó thì đau khổ vô ngần. Vậy kiếm hiểu coi, Bát Quái Đài ấy là gì? Phải chăng là Tòa Tam Giáo 5 của Đức Chí Tôn? Theo Thánh Ngôn để lại, chúng ta hãy quan sát coi trạng thái nó ra sao.

Muốn đến Bát Quái Đài chúng ta phải qua Ô Trì. Chúng ta thấy Bát Quái Đài thù lù ở dưới trồi lên trước mặt chúng ta. Chúng ta thấy nó giống như cây cột có tám cửa vậy. Cột ấy có tám cửa thì Trì – cái ao, hồ. Đức Hộ Pháp nói Ô Trì, Bích Hải, Khổ Hải là ám chỉ cõi trần gian. bảy cửa bị Thất Đầu Xà ngăn cản, không cho các Chơn Hồn vào Bát Quái Đài duy chỉ chừa có một cửa Phật mà thôi, còn bảy cửa kia có quỉ giữ không cho ai qua lại.

Không có quyền lực nào đi ngang qua đặng. Chúng ta dòm phía dưới thấy đại hải mênh mông, nước cuồn cuộn xanh biếc, sóng dợn ba đào. Mỗi làn sóng đều có đề chữ “Khổ”. Chúng ta thấy dợn hào quang nổi lên dữ tợn lắm. Mấy chữ lớn là: Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Các làn sóng dợn lên rồi hạ xuống, mỗi làn đều có một chữ “Khổ”. Chúng ta thấy những đau khổ trong buổi sanh. Nhìn thấy làn sóng rồi chúng ta thấy khổ nhục, khổ dữ lắm.

Mỗi làn sóng đều thấy khổ. Thử nghĩ đại hải rộng lớn như thế nào thì khổ hải (chứa toàn bộ nước mắt của chúng ta) cũng rộng lớn như thế ấy. Nếu chúng ta được phép Đức Chí Tôn cho vô đài ấy, chúng ta biết rằng đó là Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung. Chúng ta được hiểu nếu Chí Tôn cho vô thì chúng ta chẳng phải đi ngang qua cầu như những người kia vậy. Con đường ta đi khác hơn. Chúng ta hãy nghĩ rằng đường Bần Đạo dắt cứ đi, đi trên Con Đường Hằng Sống.

Con đường này khác hẳn với con đường kia. Chúng ta dung ruổi trên Con Đường Thánh cho nên chúng ta muốn đến tức nhiên sẽ đến. Ở ngoài Bát Quái Đài, chúng ta thấy mênh mông hào quang chiếu diệu một nhà tám cửa. Khi chúng 1 R ắn b ảy đ ầu đầu rắn. Giáo lý Cao Đài dùng hình ảnh này để chỉ 4 Ngọc Hư Cung – là nơi Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Tiêng điều hành Vũ Trụ của Ngài. ta vô rồi, Đài ấy biến mất, chỉ còn Càn Khôn Vũ Trụ chung quanh chúng ta.

Đài ấy vẫn xây, xây mãi. Ta biết rằng Đài ấy là Tòa Tam Giáo, nhưng không thấy cái trạng thái hình thể nó ra sao. Khi chúng ta đến hào quang chiếu diệu xông lên làm như ngọn lửa vậy. Lửa ấy chẳng phải là lửa thật, mà là hào quang. Hào quang xuất hiện rồi là biến mất. Kế đến, thấy một cây cân Công Bình hiện ra trước mắt chúng ta rồi cũng từ từ biến mất. Chúng ta thấy mình chẳng khác nào như khán giả đứng trước Đài coi cả kiếp sanh trước kia của chính mình.

Tất cả sẽ có trước mắt chúng ta, không điều gì sót. Phải chăng nơi ấy kinh Phật nói là Minh Cảnh Đài6? Trước mặt chúng ta không phải là kiếng, nhưng kiếp trước chúng ta làm những việc gì nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác gì như mình xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi mình hành động gì trong kiếp sanh khi xưa hôm nay đều ngó thấy trước mặt. Và cân ấy tùy theo nên, hư, tội phước mà hiện ra hết thảy, quyết đoán một cách công bình không sai chút nào hết.

Phải chăng đó là huyền bí của Tòa Thiêng Liêng ấy? Khi hành tàng đã có trước mắt, luật Tam Giáo cứ đưa ra phán quyết chẳng hề sai chạy. Kiếp sanh đã làm gì, đời hay đạo, mặt Luật Thiêng Liêng không bỏ sót một điều nào. Nếu chúng ta muốn coi 5 giống như cây cân tiểu ly ở tiệm vàng. Đây là biểu tượng của công bình. 6 theo Phật Giáo, nơi này giống như chiếc gương. Khi nhìn vào mình sẽ thấy kiếp trước của mình. cái bí pháp sửa trị ra sao, đi vô đó thì biết.

Những người khác đi đường nào, chúng ta không ngó thấy, nhưng khi vô trong Đài rồi họ cũng như mình, đồng thể như mình. Nếu họ vô rồi, thì không phân biệt họ được nữa. Quyền pháp trong Đài ấy rất ngộ nghĩnh. Thoạt đầu thấy hào quang chiếu diệu, khi bước lên cây cầu đứng rồi, thấy chung lộn với nhau. Vạn vạn người đi ngang qua đấy. Có một điều ngộ nghĩnh là chúng ta ngó thấy nam hóa nữ, nữ hóa nam.

Không còn hình ảnh nữa, bây giờ trong Đài ấy hiện ra hai ánh lửa. Nếu người nào thiếu lòng thương yêu, không biết thương mình, không biết thương người, tức là phạm vào luật thương yêu ấy thì dầu nam cũng phải hóa nữ. Nữ đã trọn kiếp tu, thật hành nghiêm luật thương yêu đó thì đặng hóa nam. Có một điều ta nên để ý là không biết lúc nào họ ra cửa. Khi họ ra không biết họ ra cửa nào.

Chúng ta chỉ biết phần mình thôi, không thể gì đoán được mấy người kia. Nếu có đoạt phẩm vị họ chỉ biết lấy họ mà thôi. Họ thành Tiên thành Phật cũng tại đó. Khi họ ra, nếu họ có tội tình gì thì họ phải trở lại đầu kiếp. Dầu cho luật định họ phải đầu kiếp, nhưng họ còn quyền duy chủ của họ nữa. Không có quyền luật nào buộc họ phải đầu kiếp liền được. Họ đặng vô Đài ấy 1.200, 2.400 tới 3.600 năm ở đó an nghỉ tuỳ hứng.

Ngày giờ nào họ biết có thể đầu kiếp trở lại đặng chuyển pháp, giáo đạo, hành đạo, chừng ấy họ ra khỏi Niết Bàn đặng đầu kiếp. Ngày ấy chúng ta định cho chúng ta chớ không phải Ngọc Hư Cung định cho chúng ta. Ta có quyền tự chủ khi đã định vị nơi Cõi Hư Linh, còn khi mang xác phàm này rồi thì mình không định được nữa. Có nhiều Đấng Thiêng Tiêng đến trọn một kiếp sanh mà không làm gì được lại phải đầu kiếp. Ấy vậy chúng ta nên kể trong sử của chúng ta từ thử đến giờ, nhứt là đạo giáo, họ để tâm tìm cho nhơn sanh một thuyết, nhưng lại không đúng với Chơn Lý Thiêng Liêng chút nào.

Họ lập thuyết là phân chúng sanh ra nam nữ, lập ra qui định “Nam nữ thọ thọ bất thân ”10. Tất cả các nền tôn giáo tạo ra pháp giới bất công là nữ bao giờ cũng chịu thiệt thòi hơn nam. Đạo vợ chồng ở trên thế gian này chúng ta nên cẩn thận để ngày kia về đến Bát Quái Đài khỏi thất lỗi với vợ. Nếu người vợ đối tròn bổn phận với mình thì họ được hóa nam, chừng ấy là người bạn thân thiết với chúng ta.

Thoảng như chúng ta làm sai với bạn chúng ta, thì ngày kia bạn ta trách ta rằng: Lúc tôi xuống trần chung sống với bạn, trong những cảnh khổ bạn không dìu dắt tôi, bạn còn hân hủi tôi nữa. Câu trách ấy ta phải chịu không thể gì trả lời được. Vì cớ cho nên Phật Giáo cho nữ đồng quyền nam. Bần Đạo nói quả quyết rằng chừng nào chúng ta thấy nơi mặt thế này đoàn em nữ phái mình biết sợ, biết kiêng nể pháp luật thì họ cũng như nam vậy.

Nếu bạc đãi họ, không dìu dắt đồng sống với nhau, ngày giờ đến Bát Quái Đài họ hóa nam, dòm lại họ là người bạn quí nhứt của mình, cũng chịu đau khổ trọn kiếp sanh với mình, lúc đó chúng ta sẽ lấy làm đau đớn vì ngày xưa không giúp họ, trái lại còn khi rẻ họ. Chúng ta đến Bát Quái Đài sẽ thấy ch ỗ đó không còn nam nữ nữa. Hư linh kia quả quyết rằng có nhiều bạn nam ta quen biết đầu kiếp nữ tại thế gian này.

Không biết rõ là bao nhiêu, chỉ biết là nhiều lắm. Có các đấng cao siêu đến Ngươn Tứ Chuyển này đặng tạo hình các Chơn Hồn 1. Họ xuống tại thế gian đặng chuyển thế 2. Dầu nam hay nữ ở các Cung cũng đến tại thế gian này làm đàn bà đặng thay các sắc dân ấy, tức là để chuyển thế. Thật sự, nơi Cõi Hư Linh kia không phân biệt nam nữ. Đức Chí Tôn nói nam không được lấn quyền hành hơn nữ.

Nam nữ đều là con của Đức Chí Tôn hết. Nói như thế ta biết không có gì lạ. n 1 sinh con, t ạo một thế hệ mới. 2 thay đổi thể gian, thí dụ như chuyển từ Nhứt Kỳ sang Nh ị Kỳ, Nh ị Kỳ sang Tam Kỳ vv… Bài 05 ĐỨC HỘ PHÁP